Đỗ Trung Quân
Tháng này Sài Gòn mưa ngâu clip_image001
Nhưng thôi, miễn bàn về thơ thẩn
Tôi nói thẳng
Cho mau
Đồng bào tôi ngoài biển vẫn bị nó cướp tàu
Đồng bào tôi ngoài biển vẫn bị nó túm đầu
Cướp cơm chim
Tôi nói thẳng
Thôi đi mấy cha, mấy anh cà vạt phòng lạnh cách xa Biển Đông ngàn dặm
Nhà anh chả ai cướp
Con anh chả ai đánh [đánh sao được, nó ở nước ngoài ráo cả]
Vợ anh chả ai hiếp [hiếp sao được, nhà anh có công an bồng súng đố thằng nào…]
Chỉ tủi thân cho đồng bào
Tàu thuyền rách nát.
Kiếm sống ở khu vực nhà mình vẫn bị ăn tát
Ăn bạt tai – đá đít
Ăn đạn AK
Bọn hải tặc đuôi sam làm cha
Thậm chí làm ông nội.
Thơ không được chửi bậy
nhưng thôi đành
Tiên sư bố chúng mày bọn lưu manh!
Bạn bè gì ngữ ấy.
Thơ không được chửi bậy
Xin tha thứ cho thằng làm thơ này. Đọc tin đồng bào bị cướp trên biển thì mắt nó cay cay…
Cứ đàn áp đi…
Cứ bóp cổ đi…
Cứ kung-fu đi…
Cứ triệu tập đi…
Cứ lo hữu nghị đi…
Hỡi những người anh em máu đỏ da vàng
Hãy thử sờ lên đầu mình. Xem…
Đã mọc đuôi sam?…
Monday, July 18, 2011
trạng: Vui vẻ Tiểu Tinh Xuân Anh.
Ảnh mang tính minh họa nhưng không nhất thiết khác với sự thật.
Xuân Anh là tài năng thực sự. Chả thế mà Thái thượng hoàng Nông Đức Nổ dăm ba lần qua chén rượu đưa đẩy câu chuyện có nói: "Nếu sinh con mà được như Nguyễn Xuân Anh dẫu có chết nhắm mắt cũng sung sướng, an lòng".
Xuân Anh thông minh từ bé. Song thân, ông bà thử bằng cách bày đồ vật trên bàn để cho chọn. Xuân Anh tay phải chọn con dấu của phụ thân, tay trái cầm thẻ tín dụng visa phụ mẫu. Gia đình đoán con mình sau này tất sẽ giữ tay hòm chia khóa ngân khố quốc gia. Dặn gia nhân trong nhà giữ kín không cho ai biết.
Xuân Anh biết nói rất sớm, tiếng nói đầu đời không gọi song thân là bố mẹ mà gọi là đồng chí. Ai cũng lấy làm lạ. 4 tuổi đã biết đánh vần, sang tuổi thứ 5 trình độ ngoại ngữ tiếng Ăng lê giỏi đến độ nghe hiểu chương trình Cartoon Network, phân biệt được chuột Mickey với thủy thủ Popeye khác nhau như thế nào. Năm lớp 2 học xong phép nhân chia, cộng trừ thành thục. Trí tuệ mẫn tiệp vượt trội so với bạn bè cùng trang lứa. Năm nào cũng được danh hiệu cháu ngoan Ông Cụ.
Có lần đi học Xuân Anh gặp một lão ăn mày. Lão ăn mày sững sờ xem tướng mà thốt lên rằng: "Người này có chân mệnh thiên tử bét ra cũng là quan tứ trụ triều đình sang không kể hết. Bố Xuân Anh là Nguyễn Chi Chi vội cho người tìm lão ăn mày để hỏi thêm nhưng người đâu không thấy chỉ để lại đôi dép râu bên bờ Hàn giang. Phải chăng là bậc thượng tiên trên trời dạo chơi chốc lát mà thiên cơ tiết lộ?
Xuân Anh có lối đọc sách khác người, ghét kiểu tầm chương trích cú, chỉ đọc lướt cốt lấy đại ý. Loại sách Xuân Anh đọc không phải ai cũng đọc được, nào là sách: "Làm sao đất nước hóa rồng trong 20 năm", "Tầm nhìn xuyên thấu thể kỷ", "Ngũ Đức Nhân Hòa"... Có thằng bé hàng xóm bắt chước đọc sách như thế, trong vòng ba ngày thổ ra một đấu huyết mang đến y viện thì chết không rõ nguyên nhân.
Năm 18 tuổi Xuân Anh học qua 3 vạn thế sư biểu. Ngài nào cũng nhận thấy cậu rất thông minh, hiểu rộng, nhớ lâu. Có một ông được vời từ đất Trường An, sau ba tháng đã từ chối khéo không dạy nữa. Ông ta lấy cớ là: "Xuân Anh học giỏi quá, tôi hết chữ để dạy". Một ông vạn thế sư biểu dạy một thanh niên 18 mà kêu là tôi hết chữ thì thật không ai có thể nghe được! Sự thật là Xuân Anh hay hỏi căn nguyên nghĩa từng câu, từng chữ - hỏi cho kỳ hiểu mới thôi - làm cho ông nhiều khi lúng túng không trả lời được.
Gia đình buộc phải cho Xuân anh tạm xa An-nam quốc qua đất Gia Nã Đại học tập kỹ nghệ, kỹ trị vài năm.
Về cố quốc tinh hoa phát tiết, cẩn trọng trong sinh hoạt. Phàm mỗi lần liên hoan không bao giờ quá chén, luôn chấp hành tỷ lệ nhất tửu, chín Cocacola, thuốc lá cà phê coi là kẻ thù mà lánh xa. Thường ngày cuối giờ làm việc chăm chỉ đi giày Adidas, xách vợt Wilson vờn trái banh nỉ. Thật là con người sống có chừng mực.
Năm 2008, tức năm Minh Chiết thứ 3, Xuân Anh vui vầy loan phượng với tiểu thư Bùi Thị Diễm người xứ Tây Đô.
Diễm đích thực là mệnh phụ phu nhân. Vốn sinh ra từ nơi gạo trắng nước trong, rụt rè đi thi sắc đẹp An-Nam qua ảnh tiến cung chẳng dè được giải vàng Kim Đỉnh. Mặc cho đại gia, tài tử giai nhân tiền đô chất như núi đi qua mắt không thèm liếc ngang. Thật là một bực công dung ngôn hạnh hiếm có trên đời.
Lẽ đương nhiên trai anh hùng phải gặp gái thuyền quyên để đẹp duyên tàng long, ngọa hổ. Xuân Anh, Thị Diễm nên đôi lứa. Sau 9 tháng 12 ngày sinh hạ một bé trai kháu khỉnh. Nghe đồn khi sinh cháu ra, mùi hương thơm ngào ngạt, bảy sắc cầu vòng quấn quanh nhà ba ngày mới tan, hạc trắng bay rợp sông, chim phượng kêu eng éc. Đến Nghiêu, Thuấn sinh ra không được điềm lành như thế.
Âm dương hòa hợp, lại ứng với quẻ Thiên Phong Cấu. Theo lời lý giải của Kinh Dịch Đại sư Nguyễn Hiến Tạng hay Nguyễn Hiến Lê tiên sinh gì đó thì quẻ này trên là Trời (Càn), dưới là gió (Tốn) dịch hào 5 mà lý giải như sau: "Hào này ở địa vị tối cao, dương cương , trung chính, có đức tốt mà không khoe khoang (ngậm chứa đức tốt), bao bọc cho kẻ tiểu nhân ở dưới (hào 1) như cây kỉ, cao, cành lá xum xuê che cây dưa (thuộc loài âm). Như vậy là hợp đạo trời, sẽ được trời ban phúc cho. ". Quả nhiên đến giữa năm 2011, mùa hạ, Xuân Anh được nhậm chức Phó Tổng đốc Đà Nẵng kiêm Dự khuyết đại thần cơ mật viện.
Có kẻ trong dân gian xấu mồm nói Xuân Anh nhờ là hạt giống đỏ mới lên chức nhanh như diều gặp gió khi còn đang trẻ tuổi. Quả thực chưa hẳn như vậy, các cụ chúng nó còn có câu: "Có bột mới gột nên hồ". Những thằng COCC nghiện hút, ếch, si da đầy đường thử hỏi chức tước của bố mẹ có làm gì cho chúng nó được không?
Xuân Anh xứng đáng là tiểu tinh ngời sáng nhất, Người sẽ còn tiến rất xa nữa. Những lời ong ve nói xấu sau lưng, xin Người hãy coi như dắm hôi, gió thoảng. Vận nước trong tay Người. Hỡi Tiểu Tinh Xuân Anh!. Bài anh nhặt trên mạng của tên Papilon, có thiến hoạn thêm pha biên tập lại.
Xuân Anh là tài năng thực sự. Chả thế mà Thái thượng hoàng Nông Đức Nổ dăm ba lần qua chén rượu đưa đẩy câu chuyện có nói: "Nếu sinh con mà được như Nguyễn Xuân Anh dẫu có chết nhắm mắt cũng sung sướng, an lòng".
Xuân Anh thông minh từ bé. Song thân, ông bà thử bằng cách bày đồ vật trên bàn để cho chọn. Xuân Anh tay phải chọn con dấu của phụ thân, tay trái cầm thẻ tín dụng visa phụ mẫu. Gia đình đoán con mình sau này tất sẽ giữ tay hòm chia khóa ngân khố quốc gia. Dặn gia nhân trong nhà giữ kín không cho ai biết.
Xuân Anh biết nói rất sớm, tiếng nói đầu đời không gọi song thân là bố mẹ mà gọi là đồng chí. Ai cũng lấy làm lạ. 4 tuổi đã biết đánh vần, sang tuổi thứ 5 trình độ ngoại ngữ tiếng Ăng lê giỏi đến độ nghe hiểu chương trình Cartoon Network, phân biệt được chuột Mickey với thủy thủ Popeye khác nhau như thế nào. Năm lớp 2 học xong phép nhân chia, cộng trừ thành thục. Trí tuệ mẫn tiệp vượt trội so với bạn bè cùng trang lứa. Năm nào cũng được danh hiệu cháu ngoan Ông Cụ.
Có lần đi học Xuân Anh gặp một lão ăn mày. Lão ăn mày sững sờ xem tướng mà thốt lên rằng: "Người này có chân mệnh thiên tử bét ra cũng là quan tứ trụ triều đình sang không kể hết. Bố Xuân Anh là Nguyễn Chi Chi vội cho người tìm lão ăn mày để hỏi thêm nhưng người đâu không thấy chỉ để lại đôi dép râu bên bờ Hàn giang. Phải chăng là bậc thượng tiên trên trời dạo chơi chốc lát mà thiên cơ tiết lộ?
Xuân Anh có lối đọc sách khác người, ghét kiểu tầm chương trích cú, chỉ đọc lướt cốt lấy đại ý. Loại sách Xuân Anh đọc không phải ai cũng đọc được, nào là sách: "Làm sao đất nước hóa rồng trong 20 năm", "Tầm nhìn xuyên thấu thể kỷ", "Ngũ Đức Nhân Hòa"... Có thằng bé hàng xóm bắt chước đọc sách như thế, trong vòng ba ngày thổ ra một đấu huyết mang đến y viện thì chết không rõ nguyên nhân.
Năm 18 tuổi Xuân Anh học qua 3 vạn thế sư biểu. Ngài nào cũng nhận thấy cậu rất thông minh, hiểu rộng, nhớ lâu. Có một ông được vời từ đất Trường An, sau ba tháng đã từ chối khéo không dạy nữa. Ông ta lấy cớ là: "Xuân Anh học giỏi quá, tôi hết chữ để dạy". Một ông vạn thế sư biểu dạy một thanh niên 18 mà kêu là tôi hết chữ thì thật không ai có thể nghe được! Sự thật là Xuân Anh hay hỏi căn nguyên nghĩa từng câu, từng chữ - hỏi cho kỳ hiểu mới thôi - làm cho ông nhiều khi lúng túng không trả lời được.
Gia đình buộc phải cho Xuân anh tạm xa An-nam quốc qua đất Gia Nã Đại học tập kỹ nghệ, kỹ trị vài năm.
Về cố quốc tinh hoa phát tiết, cẩn trọng trong sinh hoạt. Phàm mỗi lần liên hoan không bao giờ quá chén, luôn chấp hành tỷ lệ nhất tửu, chín Cocacola, thuốc lá cà phê coi là kẻ thù mà lánh xa. Thường ngày cuối giờ làm việc chăm chỉ đi giày Adidas, xách vợt Wilson vờn trái banh nỉ. Thật là con người sống có chừng mực.
Năm 2008, tức năm Minh Chiết thứ 3, Xuân Anh vui vầy loan phượng với tiểu thư Bùi Thị Diễm người xứ Tây Đô.
Diễm đích thực là mệnh phụ phu nhân. Vốn sinh ra từ nơi gạo trắng nước trong, rụt rè đi thi sắc đẹp An-Nam qua ảnh tiến cung chẳng dè được giải vàng Kim Đỉnh. Mặc cho đại gia, tài tử giai nhân tiền đô chất như núi đi qua mắt không thèm liếc ngang. Thật là một bực công dung ngôn hạnh hiếm có trên đời.
Lẽ đương nhiên trai anh hùng phải gặp gái thuyền quyên để đẹp duyên tàng long, ngọa hổ. Xuân Anh, Thị Diễm nên đôi lứa. Sau 9 tháng 12 ngày sinh hạ một bé trai kháu khỉnh. Nghe đồn khi sinh cháu ra, mùi hương thơm ngào ngạt, bảy sắc cầu vòng quấn quanh nhà ba ngày mới tan, hạc trắng bay rợp sông, chim phượng kêu eng éc. Đến Nghiêu, Thuấn sinh ra không được điềm lành như thế.
Âm dương hòa hợp, lại ứng với quẻ Thiên Phong Cấu. Theo lời lý giải của Kinh Dịch Đại sư Nguyễn Hiến Tạng hay Nguyễn Hiến Lê tiên sinh gì đó thì quẻ này trên là Trời (Càn), dưới là gió (Tốn) dịch hào 5 mà lý giải như sau: "Hào này ở địa vị tối cao, dương cương , trung chính, có đức tốt mà không khoe khoang (ngậm chứa đức tốt), bao bọc cho kẻ tiểu nhân ở dưới (hào 1) như cây kỉ, cao, cành lá xum xuê che cây dưa (thuộc loài âm). Như vậy là hợp đạo trời, sẽ được trời ban phúc cho. ". Quả nhiên đến giữa năm 2011, mùa hạ, Xuân Anh được nhậm chức Phó Tổng đốc Đà Nẵng kiêm Dự khuyết đại thần cơ mật viện.
Có kẻ trong dân gian xấu mồm nói Xuân Anh nhờ là hạt giống đỏ mới lên chức nhanh như diều gặp gió khi còn đang trẻ tuổi. Quả thực chưa hẳn như vậy, các cụ chúng nó còn có câu: "Có bột mới gột nên hồ". Những thằng COCC nghiện hút, ếch, si da đầy đường thử hỏi chức tước của bố mẹ có làm gì cho chúng nó được không?
Xuân Anh xứng đáng là tiểu tinh ngời sáng nhất, Người sẽ còn tiến rất xa nữa. Những lời ong ve nói xấu sau lưng, xin Người hãy coi như dắm hôi, gió thoảng. Vận nước trong tay Người. Hỡi Tiểu Tinh Xuân Anh!. Bài anh nhặt trên mạng của tên Papilon, có thiến hoạn thêm pha biên tập lại.
Chúng ta sẽ sẻ chia cùng đồng bào chén cơm manh áo. Trừ…
Rõ rồi nhé.
Rõ mồn một nhé.
Người Việt trấn áp người Việt nhé.
Người Việt đánh đập người Việt nhé
Vì tội tày trời : chống bọn cướp của giết người
Mang tên : BẠN.
Mang tên China.
Rõ rồi nhé.
Nhưng…
Dù gì cũng phải khen một câu
Cái gì cũng tù mù
Nhưng
Trấn áp
Thì công khai.
Bóp cổ , khiêng vác , chửi thề , đánh nóng , đánh nguội
Thì
Rất minh bạch.
Hỡi những người anh em
Đánh đồng bào mình có vui không ?
Bắt đồng bào mình có sướng không ?
Rong tảo Hoàng Sa không xanh nữa
San hô Hoàng Sa đỏ màu máu
Từ một chín bảy tư
Lạng Sơn những rừng đào linh hiển
Hoa cũng đỏ lừ.
Chúng ta
Những con người yêu nước bé mọn
Nhưng không khiếp nhược
cười đau đớn
cười ứa máu mép
cười chảy máu mồm
thở lên vòm trời làn hơi u uất
Giữa nắng mặt trời
Ngày
Chủ nhật
Não nề
Không thể
Não nề
Hơn.
Ta biết những thằng thái thú
Có đủ lý do ăn mừng
Rượu Mao đài tưới xuống
Biển Đông…
Nhưng chúng ta sẽ nói trong vị mặn của máu
Như vị mặn của máu ngư dân
Ta sẽ sẻ chia cùng đồng bào chén cơm manh áo
Từng chiếc thuyền nan
Nhưng …
Điều này là chắc chắn.
Một – tấc – biển – Đông
Cũng
Không !
[ Chủ nhật 17 tháng 7- 2011 ]
Nhà THƠ Đỗ Trung Quân
Saturday, July 16, 2011
Tổ quốc nhìn từ biển
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ
Đã muời lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước *
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
Tác giả:
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến
xin phép bác Chiến cho em chép vào blog nhé
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ
Đã muời lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước *
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
Tác giả:
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến
xin phép bác Chiến cho em chép vào blog nhé
Wednesday, June 29, 2011
Chơi đồnghồ
Để Quán thêm phongphú, Trung Tướng khai mào khoang Công Nghệ lập đã lâu dưng chưa bốt bài mẹ.
Chủđề hôm nay là Chơi Đồnghồ.
Giá có khoang Tưvấn Tiêudùng nhét bài nầy vô nhẽ hạp hơn, dưng con bà thằng Yahoo Lừa, nếu mở khoang mới nó đếch cho sắpxếp lại, rất tởm dắm.
***
Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới là đồnghồ cơ, Mechanical Watch, tức đồnghồ hoạtđộng bằng nănglượng cơhọc tíchlũy trong dây-cót của nó.
Đồnghồ điệntử, đồnghồ nắng, đồnghồ cát, đồnghồ vươnvươn, sẽ bốt nơi bài khác.
Theo tiêuchí cơkhí, đồnghồ (cơ) phân hai loại, Tựđộng Automatic, và Không-tựđộng Non-automatic.
Đồnghồ không-tựđộng là đồnghồ xài bởi George Washington, Napoleon Bonaparte, các già-hói vài trăm tuổi khác. Hoặc treo nóc Nhà-thờ Nhớn. Hoặc đút tủ Bảotàng Xưa. Loại nầy muốn chạy phải vặn cót. Một lần vặn nó sống được tầm 2 ngày.
Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới là đồnghồ tựđộng. Loại nầy muốn chạy phải mang trong người. Quên mang nó sống được tầm 1 ngày.
Đồnghồ không-tựđộng sẽ bốt nơi bài khác.
Theo tiêuchí sửdụng, đồnghồ phân hai loại, Đeo-tay, và Bỏ-túi.
Đồnghồ bỏ-túi sẽ bốt nơi bài khác.
Tóm mẹ lại, Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới chỉ là Đồnghồ Cơ Tựđộng Đeo-tay.
Mọi loại khác sẽ bốt nơi bài khác.
***
Đồnghồ Trung Tướng
Trung Tướng hiện chơi 6 con đồnghồ.
(1) Rolex Datejust Xịn, vỏ thép mặt sapphire, tông xanh. Chiên đeo đi mần-ăn công-chiện:
(2) TAGHeuer Aquaracer Xịn, vỏ thép mặt sapphire, tông đen. Chiên đeo đi thểthao đànđúm:
(3) Elysee Germany. Mua tại chính bảndoanh Elysee Dusseldorf giá 270 Oi. Chiên đeo đi phòphạch gáimú:
(4) Patek Philippe Complication Tầu hehe, Replicated như Xịn, 6-kim, 2-lịch. Giá Thâm Trấn 60 Ông Tơn hehe. Giá Xịn Thụy Sĩ 230,000 Oi. Không gúc thấy ảnh vì quá độc, dưng ngại không chụp. Chiên vác ra soi rùi cất hehe.
(5) Longines Lady Xịn. Con nầy Trung Tướng giữ như một kỷvật taonhã.
(6) Cartier Lady Tầu hehe. Con nầy Replicated tuyệt đẹp. Giá Thâm Trấn 50 Ông Tơn hehe. Trung Tướng cũng giữ như một kỷvật taonhã.
***
Đồnghồ Thụy Sĩ
Các cô đã rõ, phàm đeo Đồnghồ, nhấtkhoát nó phải Thụy Sĩ Xịn.
Đồnghồ Không Thụy Sĩ, dù Made In Mẽo, hay Anh, hay Nhật, giá hiếm bâugiờ quá dăm trăm Ông Tơn.
Đeo ngượng vãi búa các cô.
Đồnghồ Không Xịn, gianghồ kêu Replicates hay Replicas, bán trên Mạng giá 200-300 Ông Tơn, hehe sure 100% hàng Thâm Trấn.
Cạnh ga Thâm Trấn có hẳn chợ Replicas. Giá một con Swiss Made bển, hehe, không bâugiờ quá 60 Tơn:
Nếu mua cả thùng, Swiss Rolex giao 30 Tơn/Con OK.
Nếu mua cả thùng tại nhà-máy, Swiss Cartier giao 20 Tơn/Con OK.
Bầy Web bán 200 Tơn? Lãi phết lãi phết.
***
Now các cô đã rõ, thứ bọn tintin tán "Hàng chị/anh/chú/bác em xách từ Mẽo, Swiss Made 100%, em túng xiền đẩy vốn 180 Tơn", hehe, tậu ở ga Thâm Trấn 20 Tơn đấy.
***
Đồnghồ Xịn khác Replicas chỗ nầu?
(1) Khác độ chínhxác.
Rolex Xịn, chạy một tháng lệch 15 giây. Patek Philippe Xịn chạy một năm lệch 30 giây. Đẳngcấp côngnghệ Tầu không thể.
Rolex Tầu, một ngày lệch 5 phút.
(2) Khác độ thấm nước.
TAGHeuer Xịn, quăng xuống ao một tuần, vớt lên lắc phát lại tíchtắc tíchtắc.
TAGHeuer Tầu, dí vô vòi nước 2 phút, hơi phủ mờ kiếng luôn.
(3) Khác độ nhậy dạquang.
Swiss Xịn, giơ trước đèn, dạquang sáng vằngvặc như pha Ông Cụ.
Swiss Tầu, dạquang là gì là gì?
(4) Khác chấtliệu.
Mặt kiếng Xịn, mời cô đập choác phát thử hehe.
Mặt kiếng Tầu, cũng mời cô đập choác phát thử hehe hehe.
Vỏ thép Xịn, vùi đất ba niên không đủi mầu.
Vỏ thép Tầu, không dùng hai tuần ố loang như ghẻ. Vùi đất ba niên, thì thành gì thành gì?
(5) Khác giấymá.
Đồ Xịn, luôn bán kèm Authorized Dealer Invoice, Manufacturer Certificate, International Warrantee, thậmchí Buying History Log.
Đồ Tầu, luôn bán kèm quả cười đểu của Seller.
(6) Khác nhiều nữa.
***
Đồnghồ Replicas giống Xịn chỗ nầu?
Thoạt nhìn yhệt. Đến từng chitiết nhỏ nhất.
***
Giá đúng một con Swiss ra sao?
Rolex Vàng tốithiểu 20,000 Tơn. Đắt? Vỏ nó đúc tuyền vàng ròng thưa các cô.
Rolex đơculơ Vàng Trộn Thép tốithiểu 10,000 Tơn.
Rolex Thép tốithiểu 4,000 Tơn.
Hehe con Trung Tướng là Thép.
Tùy phụtùng, mức tinhxảo, mức hiếm, mức vươnvươn, như số kimcương gắn ngoài, phiênbản chạm khảm, phiênbản limited, phiênbản vươnvươn, mà giá con Swiss có thể baybổng không tưởng, dù Thép hay Vàng hay Gỗ. Trăm ngàn Tơn? Dễ. Trẹo Tơn? Có.
Mác hiểm như Patek Philippe, Vacheron Constantin, vươnvươn, thường chếtác thủcông với sốlượng địnhhạn, nên đắt kinhđiển.
Như con V/C chả đính hòn kimcương hay miếng vàng nầu nầy giá 600,000 Tơn:
Đám nặng về trangsức như Piaget, Chopard, vươnvươn, thì giá 100,000 Tơn là phổcập.
(Bài dài wá, hẹn phần sau Trung Tướng kể thú chơi đồnghồ của các giới Lừa, đồnghồ của lãnhtụ Lừa ever, gồm cả Ông Cụ, cách lựa đồnghồ phùhợp, etc.)
(@2010)
Thâm Trấn: Côngxưởng hàng rẻ xiền của tuyền thếgiới.
Phụlục
Danhsách Từ Dính trong bài:
- Đồnghồ: (Đồng hồ).
- Phongphú: (Phong phú).
- Chủđề: (Chủ đề).
- Tưvấn: (Tư vấn).
- Tiêudùng: (Tiêu dùng).
- Sắpxếp: (Sắp xếp).
- Hoạtđộng: (Hoạt động).
- Nănglượng: (Năng lượng).
- Cơhọc: (Cơ học).
- Tíchlũy: (Tích lũy).
- Điệntử: (Điện tử).
- Vươnvươn: (Vươn vươn).
- Tiêuchí: (Tiêu chí).
- Cơkhí: (Cơ khí).
- Tựđộng: (Tự động).
- Bảotàng: (Bảo tàng).
- Sửdụng: (Sử dụng).
- Thểthao: (Thể thao).
- Đànđúm: (Đàn đúm).
- Bảndoanh: (Bản doanh).
- Phòphạch: (Phò phạch).
- Gáimú: (Gái mú).
- Kỷvật: (Kỷ vật).
- Taonhã: (Tao nhã).
- Nhấtkhoát: (Nhất khoát).
- Bâugiờ: (Bâu giờ).
- Gianghồ: (Giang hồ).
- Tintin: (Tin tin).
- Chínhxác: (Chính xác).
- Đẳngcấp: (Đẳng cấp).
- Côngnghệ: (Công nghệ).
- Tíchtắc: (Tích tắc).
- Dạquang: (Dạ quang).
- Vằngvặc: (Vằng vặc).
- Chấtliệu: (Chất liệu).
- Giấymá: (Giấy má).
- Thậmchí: (Thậm chí).
- Yhệt: (Y hệt).
- Chitiết: (Chi tiết).
- Tốithiểu: (Tối thiểu).
- Đơculơ: (Đơ-cu-lơ).
- Phụtùng: (Phụ tùng).
- Tinhxảo: (Tinh xảo).
- Kimcương: (Kim cương).
- Phiênbản: (Phiên bản).
- Baybổng: (Bay bổng).
- Chếtác: (Chế tác).
- Thủcông: (Thủ công).
- Sốlượng: (Số lượng).
- Địnhhạn: (Định hạn).
- Kinhđiển: (Kinh điển).
- Trangsức: (Trang sức).
- Phổcập: (Phổ cập).
- Côngxưởng: (Công xưởng).
- Thếgiới: (Thế giới).
Danhsách Từ Ghép trong bài:
Dây-cót: (Dây cót).
Không-tựđộng: (Không tự động).
Già-hói: (Già hói).
Nhà-thờ: (Nhà thờ).
Đeo-tay: (Đeo tay).
Bỏ-túi: (Bỏ túi).
Mần-ăn: (Mần ăn).
Công-chiện: (Công chiện).
Nhà-máy: (Nhà máy).
Chủđề hôm nay là Chơi Đồnghồ.
Giá có khoang Tưvấn Tiêudùng nhét bài nầy vô nhẽ hạp hơn, dưng con bà thằng Yahoo Lừa, nếu mở khoang mới nó đếch cho sắpxếp lại, rất tởm dắm.
***
Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới là đồnghồ cơ, Mechanical Watch, tức đồnghồ hoạtđộng bằng nănglượng cơhọc tíchlũy trong dây-cót của nó.
Đồnghồ điệntử, đồnghồ nắng, đồnghồ cát, đồnghồ vươnvươn, sẽ bốt nơi bài khác.
Theo tiêuchí cơkhí, đồnghồ (cơ) phân hai loại, Tựđộng Automatic, và Không-tựđộng Non-automatic.
Đồnghồ không-tựđộng là đồnghồ xài bởi George Washington, Napoleon Bonaparte, các già-hói vài trăm tuổi khác. Hoặc treo nóc Nhà-thờ Nhớn. Hoặc đút tủ Bảotàng Xưa. Loại nầy muốn chạy phải vặn cót. Một lần vặn nó sống được tầm 2 ngày.
Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới là đồnghồ tựđộng. Loại nầy muốn chạy phải mang trong người. Quên mang nó sống được tầm 1 ngày.
Đồnghồ không-tựđộng sẽ bốt nơi bài khác.
Theo tiêuchí sửdụng, đồnghồ phân hai loại, Đeo-tay, và Bỏ-túi.
Đồnghồ bỏ-túi sẽ bốt nơi bài khác.
Tóm mẹ lại, Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới chỉ là Đồnghồ Cơ Tựđộng Đeo-tay.
Mọi loại khác sẽ bốt nơi bài khác.
***
Đồnghồ Trung Tướng
Trung Tướng hiện chơi 6 con đồnghồ.
(1) Rolex Datejust Xịn, vỏ thép mặt sapphire, tông xanh. Chiên đeo đi mần-ăn công-chiện:
(2) TAGHeuer Aquaracer Xịn, vỏ thép mặt sapphire, tông đen. Chiên đeo đi thểthao đànđúm:
(3) Elysee Germany. Mua tại chính bảndoanh Elysee Dusseldorf giá 270 Oi. Chiên đeo đi phòphạch gáimú:
(4) Patek Philippe Complication Tầu hehe, Replicated như Xịn, 6-kim, 2-lịch. Giá Thâm Trấn 60 Ông Tơn hehe. Giá Xịn Thụy Sĩ 230,000 Oi. Không gúc thấy ảnh vì quá độc, dưng ngại không chụp. Chiên vác ra soi rùi cất hehe.
(5) Longines Lady Xịn. Con nầy Trung Tướng giữ như một kỷvật taonhã.
(6) Cartier Lady Tầu hehe. Con nầy Replicated tuyệt đẹp. Giá Thâm Trấn 50 Ông Tơn hehe. Trung Tướng cũng giữ như một kỷvật taonhã.
***
Đồnghồ Thụy Sĩ
Các cô đã rõ, phàm đeo Đồnghồ, nhấtkhoát nó phải Thụy Sĩ Xịn.
Đồnghồ Không Thụy Sĩ, dù Made In Mẽo, hay Anh, hay Nhật, giá hiếm bâugiờ quá dăm trăm Ông Tơn.
Đeo ngượng vãi búa các cô.
Đồnghồ Không Xịn, gianghồ kêu Replicates hay Replicas, bán trên Mạng giá 200-300 Ông Tơn, hehe sure 100% hàng Thâm Trấn.
Cạnh ga Thâm Trấn có hẳn chợ Replicas. Giá một con Swiss Made bển, hehe, không bâugiờ quá 60 Tơn:
Nếu mua cả thùng, Swiss Rolex giao 30 Tơn/Con OK.
Nếu mua cả thùng tại nhà-máy, Swiss Cartier giao 20 Tơn/Con OK.
Bầy Web bán 200 Tơn? Lãi phết lãi phết.
***
Now các cô đã rõ, thứ bọn tintin tán "Hàng chị/anh/chú/bác em xách từ Mẽo, Swiss Made 100%, em túng xiền đẩy vốn 180 Tơn", hehe, tậu ở ga Thâm Trấn 20 Tơn đấy.
***
Đồnghồ Xịn khác Replicas chỗ nầu?
(1) Khác độ chínhxác.
Rolex Xịn, chạy một tháng lệch 15 giây. Patek Philippe Xịn chạy một năm lệch 30 giây. Đẳngcấp côngnghệ Tầu không thể.
Rolex Tầu, một ngày lệch 5 phút.
(2) Khác độ thấm nước.
TAGHeuer Xịn, quăng xuống ao một tuần, vớt lên lắc phát lại tíchtắc tíchtắc.
TAGHeuer Tầu, dí vô vòi nước 2 phút, hơi phủ mờ kiếng luôn.
(3) Khác độ nhậy dạquang.
Swiss Xịn, giơ trước đèn, dạquang sáng vằngvặc như pha Ông Cụ.
Swiss Tầu, dạquang là gì là gì?
(4) Khác chấtliệu.
Mặt kiếng Xịn, mời cô đập choác phát thử hehe.
Mặt kiếng Tầu, cũng mời cô đập choác phát thử hehe hehe.
Vỏ thép Xịn, vùi đất ba niên không đủi mầu.
Vỏ thép Tầu, không dùng hai tuần ố loang như ghẻ. Vùi đất ba niên, thì thành gì thành gì?
(5) Khác giấymá.
Đồ Xịn, luôn bán kèm Authorized Dealer Invoice, Manufacturer Certificate, International Warrantee, thậmchí Buying History Log.
Đồ Tầu, luôn bán kèm quả cười đểu của Seller.
(6) Khác nhiều nữa.
***
Đồnghồ Replicas giống Xịn chỗ nầu?
Thoạt nhìn yhệt. Đến từng chitiết nhỏ nhất.
***
Giá đúng một con Swiss ra sao?
Rolex Vàng tốithiểu 20,000 Tơn. Đắt? Vỏ nó đúc tuyền vàng ròng thưa các cô.
Rolex đơculơ Vàng Trộn Thép tốithiểu 10,000 Tơn.
Rolex Thép tốithiểu 4,000 Tơn.
Hehe con Trung Tướng là Thép.
Tùy phụtùng, mức tinhxảo, mức hiếm, mức vươnvươn, như số kimcương gắn ngoài, phiênbản chạm khảm, phiênbản limited, phiênbản vươnvươn, mà giá con Swiss có thể baybổng không tưởng, dù Thép hay Vàng hay Gỗ. Trăm ngàn Tơn? Dễ. Trẹo Tơn? Có.
Mác hiểm như Patek Philippe, Vacheron Constantin, vươnvươn, thường chếtác thủcông với sốlượng địnhhạn, nên đắt kinhđiển.
Như con V/C chả đính hòn kimcương hay miếng vàng nầu nầy giá 600,000 Tơn:
Đám nặng về trangsức như Piaget, Chopard, vươnvươn, thì giá 100,000 Tơn là phổcập.
(Bài dài wá, hẹn phần sau Trung Tướng kể thú chơi đồnghồ của các giới Lừa, đồnghồ của lãnhtụ Lừa ever, gồm cả Ông Cụ, cách lựa đồnghồ phùhợp, etc.)
(@2010)
Thâm Trấn: Côngxưởng hàng rẻ xiền của tuyền thếgiới.
Phụlục
Danhsách Từ Dính trong bài:
- Đồnghồ: (Đồng hồ).
- Phongphú: (Phong phú).
- Chủđề: (Chủ đề).
- Tưvấn: (Tư vấn).
- Tiêudùng: (Tiêu dùng).
- Sắpxếp: (Sắp xếp).
- Hoạtđộng: (Hoạt động).
- Nănglượng: (Năng lượng).
- Cơhọc: (Cơ học).
- Tíchlũy: (Tích lũy).
- Điệntử: (Điện tử).
- Vươnvươn: (Vươn vươn).
- Tiêuchí: (Tiêu chí).
- Cơkhí: (Cơ khí).
- Tựđộng: (Tự động).
- Bảotàng: (Bảo tàng).
- Sửdụng: (Sử dụng).
- Thểthao: (Thể thao).
- Đànđúm: (Đàn đúm).
- Bảndoanh: (Bản doanh).
- Phòphạch: (Phò phạch).
- Gáimú: (Gái mú).
- Kỷvật: (Kỷ vật).
- Taonhã: (Tao nhã).
- Nhấtkhoát: (Nhất khoát).
- Bâugiờ: (Bâu giờ).
- Gianghồ: (Giang hồ).
- Tintin: (Tin tin).
- Chínhxác: (Chính xác).
- Đẳngcấp: (Đẳng cấp).
- Côngnghệ: (Công nghệ).
- Tíchtắc: (Tích tắc).
- Dạquang: (Dạ quang).
- Vằngvặc: (Vằng vặc).
- Chấtliệu: (Chất liệu).
- Giấymá: (Giấy má).
- Thậmchí: (Thậm chí).
- Yhệt: (Y hệt).
- Chitiết: (Chi tiết).
- Tốithiểu: (Tối thiểu).
- Đơculơ: (Đơ-cu-lơ).
- Phụtùng: (Phụ tùng).
- Tinhxảo: (Tinh xảo).
- Kimcương: (Kim cương).
- Phiênbản: (Phiên bản).
- Baybổng: (Bay bổng).
- Chếtác: (Chế tác).
- Thủcông: (Thủ công).
- Sốlượng: (Số lượng).
- Địnhhạn: (Định hạn).
- Kinhđiển: (Kinh điển).
- Trangsức: (Trang sức).
- Phổcập: (Phổ cập).
- Côngxưởng: (Công xưởng).
- Thếgiới: (Thế giới).
Danhsách Từ Ghép trong bài:
Dây-cót: (Dây cót).
Không-tựđộng: (Không tự động).
Già-hói: (Già hói).
Nhà-thờ: (Nhà thờ).
Đeo-tay: (Đeo tay).
Bỏ-túi: (Bỏ túi).
Mần-ăn: (Mần ăn).
Công-chiện: (Công chiện).
Nhà-máy: (Nhà máy).
Monday, June 13, 2011
Đơn Độc
Huy Đức
Người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã lại xuống đường. Mặc dù mục tiêu của những cuộc tuần hành sáng 12-6-2011 vẫn là Trung Quốc, chính quyền đã cứng rắn hơn. Có lẽ, họ đã quên mất, mỗi khi đất nước có hiểm họa xâm lăng thì mục tiêu của dân chúng là những kẻ đang rập rình ngoài bờ cõi. Người dân vẫn còn nhớ, đất đai của tiền nhân thường hay bị mất mỗi khi “ở trong tường vách, da thịt tàn nhau”.
Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.
Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam. Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị “Quân giải phóng Trung Quốc” chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để “trao một bức điện bằng lời”, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: “Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam”. Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: “Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn”. Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975, sau “chiến thắng Buôn Ma Thuột”, Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị “tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo” mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: “Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: “Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”. Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện “tối khẩn” cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời… Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”. Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.
Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, “Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa”, một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Lăng Đức Quyền (Ling Dequan) đang thường trú tại Hà Nội đã thấy “đắng chát ở trong miệng”. Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: “Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy”. Mân Lực, tác giả cuốn sách “Mười năm chiến tranh Trung-Việt”, cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là “ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”. Vì theo Mân Lực: “Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam”.
Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục”. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: “Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai “có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)”. Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: “Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự ‘ngây thơ quốc tế vô sản’ cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn”. “Công hàm 1958” là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của “đồng minh” Trung Quốc. Cho dù, “Công hàm 1958” tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa - ở thời điểm 1958 - không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia vẫn có mặt ở các diễn đàn Liên Hiệp Quốc.
Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Lăng Đức Quyền, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới “dùng vũ lực để cưỡng đoạt” trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.
Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.
Kinh nghiệm từ “Trận tử chiến Hoàng Sa” năm 1974, mọi hành động trên biển đông là để giữ đảo chứ không phải để chứng minh lòng dũng cảm. Nhưng, trước cùng một sự kiện, Hải quân và thường dân đôi khi vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Người dân không có trách nhiệm phải cân nhắc mối tương quan sức mạnh giữa hai quốc gia. Người dân có khát vọng chứng minh: Một dân tộc nhỏ hơn không có nghĩa là cam lòng sợ hãi.
Những thanh niên, trí thức, thường dân hôm nay, 12-6-2011, biết chính quyền đang phải chịu những sức ép nào và những sức ép ấy giờ đây lại dồn lên vai họ. Nhưng, hàng ngàn người dân vẫn phải xuống đường. Họ không chỉ đòi lại đoạn cáp thứ hai bị chính quyền hải tặc Trung Quốc cắt trong vòng chỉ hơn một tuần. Họ muốn nói với người phương Bắc, cho dù lịch sử có trải thêm mấy nghìn năm, cho dù bị lừa phỉnh bởi “tình láng giềng, đồng chí”, người Việt Nam vẫn hiểu Trung Quốc là ai và bảo vệ chủ quyền là ý chí không có gì lay chuyển được.
Không phủ nhận những lý do dẫn đến nỗi sợ mơ hồ trong những ngày này. Nhưng, cũng trong những ngày này, chính quyền có cơ hội không hề mơ hồ để đứng bên cạnh nhân dân, đoàn kết mọi người Việt Nam, không chỉ để cho mục tiêu chống ngoại xâm mà còn có thể cho mục tiêu “ổn định”. Chảy nước mắt khi cảm thấy dân mình đơn độc.
Nguồn: Huy Đức Face book
Người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã lại xuống đường. Mặc dù mục tiêu của những cuộc tuần hành sáng 12-6-2011 vẫn là Trung Quốc, chính quyền đã cứng rắn hơn. Có lẽ, họ đã quên mất, mỗi khi đất nước có hiểm họa xâm lăng thì mục tiêu của dân chúng là những kẻ đang rập rình ngoài bờ cõi. Người dân vẫn còn nhớ, đất đai của tiền nhân thường hay bị mất mỗi khi “ở trong tường vách, da thịt tàn nhau”.
Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.
Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam. Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị “Quân giải phóng Trung Quốc” chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để “trao một bức điện bằng lời”, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: “Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam”. Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: “Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn”. Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975, sau “chiến thắng Buôn Ma Thuột”, Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị “tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo” mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: “Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: “Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”. Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện “tối khẩn” cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời… Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”. Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.
Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, “Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa”, một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Lăng Đức Quyền (Ling Dequan) đang thường trú tại Hà Nội đã thấy “đắng chát ở trong miệng”. Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: “Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy”. Mân Lực, tác giả cuốn sách “Mười năm chiến tranh Trung-Việt”, cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là “ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”. Vì theo Mân Lực: “Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam”.
Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục”. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: “Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai “có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)”. Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: “Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự ‘ngây thơ quốc tế vô sản’ cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn”. “Công hàm 1958” là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của “đồng minh” Trung Quốc. Cho dù, “Công hàm 1958” tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa - ở thời điểm 1958 - không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia vẫn có mặt ở các diễn đàn Liên Hiệp Quốc.
Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Lăng Đức Quyền, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới “dùng vũ lực để cưỡng đoạt” trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.
Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.
Kinh nghiệm từ “Trận tử chiến Hoàng Sa” năm 1974, mọi hành động trên biển đông là để giữ đảo chứ không phải để chứng minh lòng dũng cảm. Nhưng, trước cùng một sự kiện, Hải quân và thường dân đôi khi vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Người dân không có trách nhiệm phải cân nhắc mối tương quan sức mạnh giữa hai quốc gia. Người dân có khát vọng chứng minh: Một dân tộc nhỏ hơn không có nghĩa là cam lòng sợ hãi.
Những thanh niên, trí thức, thường dân hôm nay, 12-6-2011, biết chính quyền đang phải chịu những sức ép nào và những sức ép ấy giờ đây lại dồn lên vai họ. Nhưng, hàng ngàn người dân vẫn phải xuống đường. Họ không chỉ đòi lại đoạn cáp thứ hai bị chính quyền hải tặc Trung Quốc cắt trong vòng chỉ hơn một tuần. Họ muốn nói với người phương Bắc, cho dù lịch sử có trải thêm mấy nghìn năm, cho dù bị lừa phỉnh bởi “tình láng giềng, đồng chí”, người Việt Nam vẫn hiểu Trung Quốc là ai và bảo vệ chủ quyền là ý chí không có gì lay chuyển được.
Không phủ nhận những lý do dẫn đến nỗi sợ mơ hồ trong những ngày này. Nhưng, cũng trong những ngày này, chính quyền có cơ hội không hề mơ hồ để đứng bên cạnh nhân dân, đoàn kết mọi người Việt Nam, không chỉ để cho mục tiêu chống ngoại xâm mà còn có thể cho mục tiêu “ổn định”. Chảy nước mắt khi cảm thấy dân mình đơn độc.
Nguồn: Huy Đức Face book
Thursday, July 29, 2010
Ai? Tôi!
Ai? Tôi!
Che Lan Vien
Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó ?
Tôi !
Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận
về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu trách nhiệm vậy ?
Lại chính là tôi !
Người lính cần một câu thơ
giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
Che Lan Vien
Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó ?
Tôi !
Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận
về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu trách nhiệm vậy ?
Lại chính là tôi !
Người lính cần một câu thơ
giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
Subscribe to:
Posts (Atom)