Wednesday, June 29, 2011

Chơi đồnghồ

Để Quán thêm phongphú, Trung Tướng khai mào khoang Công Nghệ lập đã lâu dưng chưa bốt bài mẹ.

Chủđề hôm nay là Chơi Đồnghồ.

Giá có khoang Tưvấn Tiêudùng nhét bài nầy vô nhẽ hạp hơn, dưng con bà thằng Yahoo Lừa, nếu mở khoang mới nó đếch cho sắpxếp lại, rất tởm dắm.

***

Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới là đồnghồ cơ, Mechanical Watch, tức đồnghồ hoạtđộng bằng nănglượng cơhọc tíchlũy trong dây-cót của nó.

Đồnghồ điệntử, đồnghồ nắng, đồnghồ cát, đồnghồ vươnvươn, sẽ bốt nơi bài khác.

Theo tiêuchí cơkhí, đồnghồ (cơ) phân hai loại, Tựđộng Automatic, và Không-tựđộng Non-automatic.

Đồnghồ không-tựđộng là đồnghồ xài bởi George Washington, Napoleon Bonaparte, các già-hói vài trăm tuổi khác. Hoặc treo nóc Nhà-thờ Nhớn. Hoặc đút tủ Bảotàng Xưa. Loại nầy muốn chạy phải vặn cót. Một lần vặn nó sống được tầm 2 ngày.

Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới là đồnghồ tựđộng. Loại nầy muốn chạy phải mang trong người. Quên mang nó sống được tầm 1 ngày.

Đồnghồ không-tựđộng sẽ bốt nơi bài khác.

Theo tiêuchí sửdụng, đồnghồ phân hai loại, Đeo-tay, và Bỏ-túi.

Đồnghồ bỏ-túi sẽ bốt nơi bài khác.

Tóm mẹ lại, Đồnghồ Trung Tướng nhắm tới chỉ là Đồnghồ Cơ Tựđộng Đeo-tay.

Mọi loại khác sẽ bốt nơi bài khác.

***

Đồnghồ Trung Tướng

Trung Tướng hiện chơi 6 con đồnghồ.

(1) Rolex Datejust Xịn, vỏ thép mặt sapphire, tông xanh. Chiên đeo đi mần-ăn công-chiện:

(2) TAGHeuer Aquaracer Xịn, vỏ thép mặt sapphire, tông đen. Chiên đeo đi thểthao đànđúm:

(3) Elysee Germany. Mua tại chính bảndoanh Elysee Dusseldorf giá 270 Oi. Chiên đeo đi phòphạch gáimú:

(4) Patek Philippe Complication Tầu hehe, Replicated như Xịn, 6-kim, 2-lịch. Giá Thâm Trấn 60 Ông Tơn hehe. Giá Xịn Thụy Sĩ 230,000 Oi. Không gúc thấy ảnh vì quá độc, dưng ngại không chụp. Chiên vác ra soi rùi cất hehe.

(5) Longines Lady Xịn. Con nầy Trung Tướng giữ như một kỷvật taonhã.

(6) Cartier Lady Tầu hehe. Con nầy Replicated tuyệt đẹp. Giá Thâm Trấn 50 Ông Tơn hehe. Trung Tướng cũng giữ như một kỷvật taonhã.

***

Đồnghồ Thụy Sĩ

Các cô đã rõ, phàm đeo Đồnghồ, nhấtkhoát nó phải Thụy Sĩ Xịn.

Đồnghồ Không Thụy Sĩ, dù Made In Mẽo, hay Anh, hay Nhật, giá hiếm bâugiờ quá dăm trăm Ông Tơn.

Đeo ngượng vãi búa các cô.

Đồnghồ Không Xịn, gianghồ kêu Replicates hay Replicas, bán trên Mạng giá 200-300 Ông Tơn, hehe sure 100% hàng Thâm Trấn.

Cạnh ga Thâm Trấn có hẳn chợ Replicas. Giá một con Swiss Made bển, hehe, không bâugiờ quá 60 Tơn:

Nếu mua cả thùng, Swiss Rolex giao 30 Tơn/Con OK.

Nếu mua cả thùng tại nhà-máy, Swiss Cartier giao 20 Tơn/Con OK.

Bầy Web bán 200 Tơn? Lãi phết lãi phết.

***

Now các cô đã rõ, thứ bọn tintin tán "Hàng chị/anh/chú/bác em xách từ Mẽo, Swiss Made 100%, em túng xiền đẩy vốn 180 Tơn", hehe, tậu ở ga Thâm Trấn 20 Tơn đấy.

***

Đồnghồ Xịn khác Replicas chỗ nầu?

(1) Khác độ chínhxác.

Rolex Xịn, chạy một tháng lệch 15 giây. Patek Philippe Xịn chạy một năm lệch 30 giây. Đẳngcấp côngnghệ Tầu không thể.

Rolex Tầu, một ngày lệch 5 phút.

(2) Khác độ thấm nước.

TAGHeuer Xịn, quăng xuống ao một tuần, vớt lên lắc phát lại tíchtắc tíchtắc.

TAGHeuer Tầu, dí vô vòi nước 2 phút, hơi phủ mờ kiếng luôn.

(3) Khác độ nhậy dạquang.

Swiss Xịn, giơ trước đèn, dạquang sáng vằngvặc như pha Ông Cụ.

Swiss Tầu, dạquang là gì là gì?

(4) Khác chấtliệu.

Mặt kiếng Xịn, mời cô đập choác phát thử hehe.

Mặt kiếng Tầu, cũng mời cô đập choác phát thử hehe hehe.

Vỏ thép Xịn, vùi đất ba niên không đủi mầu.

Vỏ thép Tầu, không dùng hai tuần ố loang như ghẻ. Vùi đất ba niên, thì thành gì thành gì?

(5) Khác giấymá.

Đồ Xịn, luôn bán kèm Authorized Dealer Invoice, Manufacturer Certificate, International Warrantee, thậmchí Buying History Log.

Đồ Tầu, luôn bán kèm quả cười đểu của Seller.

(6) Khác nhiều nữa.

***

Đồnghồ Replicas giống Xịn chỗ nầu?

Thoạt nhìn yhệt. Đến từng chitiết nhỏ nhất.

***

Giá đúng một con Swiss ra sao?

Rolex Vàng tốithiểu 20,000 Tơn. Đắt? Vỏ nó đúc tuyền vàng ròng thưa các cô.

Rolex đơculơ Vàng Trộn Thép tốithiểu 10,000 Tơn.

Rolex Thép tốithiểu 4,000 Tơn.

Hehe con Trung Tướng là Thép.

Tùy phụtùng, mức tinhxảo, mức hiếm, mức vươnvươn, như số kimcương gắn ngoài, phiênbản chạm khảm, phiênbản limited, phiênbản vươnvươn, mà giá con Swiss có thể baybổng không tưởng, dù Thép hay Vàng hay Gỗ. Trăm ngàn Tơn? Dễ. Trẹo Tơn? Có.

Mác hiểm như Patek Philippe, Vacheron Constantin, vươnvươn, thường chếtác thủcông với sốlượng địnhhạn, nên đắt kinhđiển.

Như con V/C chả đính hòn kimcương hay miếng vàng nầu nầy giá 600,000 Tơn:

Đám nặng về trangsức như Piaget, Chopard, vươnvươn, thì giá 100,000 Tơn là phổcập.

(Bài dài wá, hẹn phần sau Trung Tướng kể thú chơi đồnghồ của các giới Lừa, đồnghồ của lãnhtụ Lừa ever, gồm cả Ông Cụ, cách lựa đồnghồ phùhợp, etc.)

(@2010)

Thâm Trấn: Côngxưởng hàng rẻ xiền của tuyền thếgiới.

Phụlục

Danhsách Từ Dính trong bài:

- Đồnghồ: (Đồng hồ).
- Phongphú: (Phong phú).
- Chủđề: (Chủ đề).
- Tưvấn: (Tư vấn).
- Tiêudùng: (Tiêu dùng).
- Sắpxếp: (Sắp xếp).
- Hoạtđộng: (Hoạt động).
- Nănglượng: (Năng lượng).
- Cơhọc: (Cơ học).
- Tíchlũy: (Tích lũy).
- Điệntử: (Điện tử).
- Vươnvươn: (Vươn vươn).
- Tiêuchí: (Tiêu chí).
- Cơkhí: (Cơ khí).
- Tựđộng: (Tự động).
- Bảotàng: (Bảo tàng).
- Sửdụng: (Sử dụng).
- Thểthao: (Thể thao).
- Đànđúm: (Đàn đúm).
- Bảndoanh: (Bản doanh).
- Phòphạch: (Phò phạch).
- Gáimú: (Gái mú).
- Kỷvật: (Kỷ vật).
- Taonhã: (Tao nhã).
- Nhấtkhoát: (Nhất khoát).
- Bâugiờ: (Bâu giờ).
- Gianghồ: (Giang hồ).
- Tintin: (Tin tin).
- Chínhxác: (Chính xác).
- Đẳngcấp: (Đẳng cấp).
- Côngnghệ: (Công nghệ).
- Tíchtắc: (Tích tắc).
- Dạquang: (Dạ quang).
- Vằngvặc: (Vằng vặc).
- Chấtliệu: (Chất liệu).
- Giấymá: (Giấy má).
- Thậmchí: (Thậm chí).
- Yhệt: (Y hệt).
- Chitiết: (Chi tiết).
- Tốithiểu: (Tối thiểu).
- Đơculơ: (Đơ-cu-lơ).
- Phụtùng: (Phụ tùng).
- Tinhxảo: (Tinh xảo).
- Kimcương: (Kim cương).
- Phiênbản: (Phiên bản).
- Baybổng: (Bay bổng).
- Chếtác: (Chế tác).
- Thủcông: (Thủ công).
- Sốlượng: (Số lượng).
- Địnhhạn: (Định hạn).
- Kinhđiển: (Kinh điển).
- Trangsức: (Trang sức).
- Phổcập: (Phổ cập).
- Côngxưởng: (Công xưởng).
- Thếgiới: (Thế giới).

Danhsách Từ Ghép trong bài:

Dây-cót: (Dây cót).
Không-tựđộng: (Không tự động).
Già-hói: (Già hói).
Nhà-thờ: (Nhà thờ).
Đeo-tay: (Đeo tay).
Bỏ-túi: (Bỏ túi).
Mần-ăn: (Mần ăn).
Công-chiện: (Công chiện).
Nhà-máy: (Nhà máy).

Monday, June 13, 2011

Đơn Độc

Huy Đức

Người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã lại xuống đường. Mặc dù mục tiêu của những cuộc tuần hành sáng 12-6-2011 vẫn là Trung Quốc, chính quyền đã cứng rắn hơn. Có lẽ, họ đã quên mất, mỗi khi đất nước có hiểm họa xâm lăng thì mục tiêu của dân chúng là những kẻ đang rập rình ngoài bờ cõi. Người dân vẫn còn nhớ, đất đai của tiền nhân thường hay bị mất mỗi khi “ở trong tường vách, da thịt tàn nhau”.

Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.

Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam. Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị “Quân giải phóng Trung Quốc” chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.

Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để “trao một bức điện bằng lời”, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: “Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam”. Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: “Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn”. Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.

Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975, sau “chiến thắng Buôn Ma Thuột”, Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị “tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo” mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: “Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: “Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”. Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện “tối khẩn” cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời… Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”. Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.

Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, “Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa”, một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Lăng Đức Quyền (Ling Dequan) đang thường trú tại Hà Nội đã thấy “đắng chát ở trong miệng”. Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: “Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy”. Mân Lực, tác giả cuốn sách “Mười năm chiến tranh Trung-Việt”, cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là “ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”. Vì theo Mân Lực: “Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam”.

Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục”. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: “Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai “có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)”. Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: “Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự ‘ngây thơ quốc tế vô sản’ cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn”. “Công hàm 1958” là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của “đồng minh” Trung Quốc. Cho dù, “Công hàm 1958” tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa - ở thời điểm 1958 - không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia vẫn có mặt ở các diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Lăng Đức Quyền, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới “dùng vũ lực để cưỡng đoạt” trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.

Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.

Kinh nghiệm từ “Trận tử chiến Hoàng Sa” năm 1974, mọi hành động trên biển đông là để giữ đảo chứ không phải để chứng minh lòng dũng cảm. Nhưng, trước cùng một sự kiện, Hải quân và thường dân đôi khi vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Người dân không có trách nhiệm phải cân nhắc mối tương quan sức mạnh giữa hai quốc gia. Người dân có khát vọng chứng minh: Một dân tộc nhỏ hơn không có nghĩa là cam lòng sợ hãi.

Những thanh niên, trí thức, thường dân hôm nay, 12-6-2011, biết chính quyền đang phải chịu những sức ép nào và những sức ép ấy giờ đây lại dồn lên vai họ. Nhưng, hàng ngàn người dân vẫn phải xuống đường. Họ không chỉ đòi lại đoạn cáp thứ hai bị chính quyền hải tặc Trung Quốc cắt trong vòng chỉ hơn một tuần. Họ muốn nói với người phương Bắc, cho dù lịch sử có trải thêm mấy nghìn năm, cho dù bị lừa phỉnh bởi “tình láng giềng, đồng chí”, người Việt Nam vẫn hiểu Trung Quốc là ai và bảo vệ chủ quyền là ý chí không có gì lay chuyển được.

Không phủ nhận những lý do dẫn đến nỗi sợ mơ hồ trong những ngày này. Nhưng, cũng trong những ngày này, chính quyền có cơ hội không hề mơ hồ để đứng bên cạnh nhân dân, đoàn kết mọi người Việt Nam, không chỉ để cho mục tiêu chống ngoại xâm mà còn có thể cho mục tiêu “ổn định”. Chảy nước mắt khi cảm thấy dân mình đơn độc.

Nguồn: Huy Đức Face book

Thursday, July 29, 2010

Ai? Tôi!

Ai? Tôi!
Che Lan Vien
Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó ?
Tôi !

Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận
về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu trách nhiệm vậy ?
Lại chính là tôi !

Người lính cần một câu thơ
giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong

Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

BÌNH ĐỘ 400*

BÌNH ĐỘ 400*

Đêm tháng Năm vào Bình độ Bốn Trăm
Đoàn xe trôi êm êm, tầm đại bác
Thuốc súng tanh, lá rừng kêu xào xạc
Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu?

Lắc lư xe quan tài vượt về sau
Máu dỏ xuống đường cuốn vào cát bụi
Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi
Tốp thương binh bê bết máu mặt, mày

Đám cướp kia Thánh, Phật dạy ăn chay
Chẳng kiêng gì ngày Rằm, mồng Một !
Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt
Tưới máu người cướp, giữ đất biên cương.

Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân
Ông bảo rằng: Sống, chết, thời, vận, số !
Cả Trung đoàn ào ào như thác lũ
Bình độ Bốn Trăm bình địa trận người.

Những chàng trai sống, chết trận này ơi!
Mưa đổ xuống ông Trời tuôn nước mắt
Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất
Người trở về ăn, sống, ở ra sao ?

Tuesday, June 15, 2010

Sự im lặng lịch sử và món nợ hậu thế

“rồi lại còn lên tiếng bênh những việc làm lộng hành của họ trên Biển Đông tưởng làm thế là giữ được 16 chữ vàng, tức giữ được “cái ghế” cho mình, thì có phải là giúp họ hợp thức hóa hành vi xâm lược?”

Hoàng Giang là bút danh của một đảng viên cao cấp ĐCSVN hiện nay đã nghỉ hưu. BVN rất kính trọng tác giả nhưng vốn không chủ trương trình bày ý kiến phản biện với Đảng mà chỉ phản biện với các cơ quan công quyền, nên xin đăng bài này với trách nhiệm thuộc cá nhân tác giả, để mời bạn đọc ngẫm nghĩ về một vấn đề thực tiễn của xã hội chúng ta nhìn trên bình diện lý thuyết và từ góc độ Đảng mà nói.
Thật ra, lâu nay, nhiều nhà trí thức như nhà văn Nguyên Ngọc, cũng đã băn khoăn trăn trở rất nhiều về việc: lẽ ra ngay sau 1975 chúng ta cần có một đề án tâm huyết cho công cuộc phục hưng dân tộc, nhằm kiên trì xây dựng lại đời sống tinh thần mọi mặt của người Việt, nhất là mặt nền tảng đạo đức, lương tri, lối sống, phong tục... trên toàn bộ xã hội Việt Nam vốn đã bị nhàu nát sau 30 năm chiến tranh. Nhưng các bậc lãnh đạo thuở bấy giờ vì quá say men chiến thắng đã để lỡ mất cơ hội ngàn vàng ấy. Bây giờ thì, cùng với một thiết chế hình như chưa thích hợp áp đặt khiên cưỡng sau bao nhiêu năm, cộng với một nền kinh tế thị trường đôi khi không có sự hướng dẫn của lý trí xã hội và của pháp quy chặt chẽ gây nên không ít đảo lộn trong đời sống mà sự chi phối ngược của các nhóm lợi ích là một trong những tác nhân tệ hại, những hiện tượng hỗn loạn bộc phát ngày càng làm cho cái phần nền tảng tinh thần xã hội trở nên suy thoái, nham nhở một cách bi đát. Giải pháp nào đây? Các vị ngồi trên đỉnh cao chót vót có lúc nào thoáng nghĩ đến điều đó hay không hay ngày đêm chỉ dành hết tâm can cho giấc mơ... siêu dự án và đại dự án?
Bauxite Việt Nam
Hình như dân tộc nào cũng có câu “Im lặng là vàng!” Dù câu này có thể được diễn đạt có chút ít khác nhau, nhưng nội dung đều cùng chứa đựng cái hàm ý ấy. Qua câu phương ngôn này cho thấy trong văn hóa ứng xử, dân tộc nào cũng đề cao sự khiêm tốn và sự kiệm lời, sự biết lắng nghe và sự biết suy xét, sự biết nhẫn nhịn và sự biết kiềm chế trước khi nói; nếu không cần, hoặc chưa cần thì im lặng vẫn là chọn lựa tối ưu.
Thế nhưng, trước bất công của xã hội, trước áp bức của cường quyền, trước một vấn đề có liên quan đến tồn vong của đất nước thì sự im lặng của con người sẽ có ý nghĩa gì đây?
Do chưa nắm bắt được vấn đề? Do thiếu thông tin? Do bị bưng bít? Do hèn nhát? Do dốt nát? Do ngu muội? Do tắc trách? Do thiếu tự tin? Do thiếu quyết đoán? Do đồng tình?
Có lẽ các câu hỏi trên có thể chỉ là những câu trả lời chính xác cho từng đối tượng và từng trường hợp cụ thể, song cũng có thể là câu trả lời tổng hợp đối với tất cả những nội dung được hỏi, để dành cho những ai có trách nhiệm với lịch sử mà lại im lặng trước thực trạng xã hội được mô tả.
Cái Gian và cái Ác luôn luôn muốn bít mắt, bưng tai và bịt miệng mọi người bằng sự lừa bịp, bằng sự dối trá lẫn bằng quyền uy và bạo lực để chúng được tự do hoành hành. Sự im lặng của mọi người trong xã hội là đúng với mong mỏi của kẻ gian, kẻ ác.
Sự im lặng trước bất công của xã hội, trước áp bức của cường quyền, nhất là trước các sự kiện có liên quan đến tồn vong của đất nước cũng đồng nghĩa là món nợ ngàn đời của các thế hệ đi trước đối với các thế hệ con cháu mai sau. Xã hội nào mà có hiện tượng đó xảy ra là một xã hội thực sự vô phúc và bất hạnh.
Hầu như tất cả cán bộ và quần chúng cách mạng Việt Nam đều thấm nhuần cái tên gọi của cuộc cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân, cái tên mà Đảng ta luôn nêu cao trong suốt quá trình tiến hành cách mạng từ năm 1930 đến năm 1975, cũng như cái tên Việt nam - Dân chủ - Cộng hòa, cái tên vinh quang đã từng được thế giới biết đến trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cái tên một thời luôn là chỗ dựa tinh thần, là niềm tin và mục tiêu chiến đấu của biết bao thế hệ chiến sĩ và quần chúng cách mạng trong suốt 30 năm dài qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bởi vì cái tên đó đồng nghĩa với việc nước Việt Nam đã thực sự có tên trên bản đồ thế giới, đồng nghĩa với một nước Việt Nam đã được độc lập và đang phấn đấu cho một nền độc lập, tự do hoàn toàn.
Thế nhưng, ngay khi vừa hoàn thành giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, người ta đã võ đoán xóa bỏ ngay giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân, giai đoạn lẽ ra phải được tiếp nối sau giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc như Đảng ta đã từng long trọng hứa hẹn với quần chúng, với dân tộc khi động viên họ tham gia và ủng hộ tiến trình cách mạng. Người ta đã xóa bỏ tên nước, xóa bỏ hiến pháp, xóa bỏ nền pháp quyền đầu tiên của cách mạng, xóa bỏ nền dân chủ đã từng hứa hẹn để thay vào đó là “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa” và “nền chuyên chính vô sản”; thậm chí đến cái tên của cái chính đảng đã từng lãnh đạo cuộc cách mạng ấy cũng bị vội vàng xóa bỏ.
Thuở ấy người ta đang ngây ngất, phiêu diêu trong sự thăng hoa và trong men say chiến thắng của một dân tộc sau hàng thế kỷ dài sống trong tủi nhục của kiếp nô lệ và phải trải qua vô vàn đau thương mất mát bởi tình trạng “nồi da xáo thịt”, đất nước bị chia cắt, dân tộc bị chia rẽ, thân quyến bị chia lìa qua suốt hơn 30 năm ròng rã chiến tranh..., nay bỗng được độc lập, được tự do và thống nhất, được sum họp gia đình nên chỉ nghĩ những việc làm đó của Đảng lúc ấy là sự tiếp tục của tư tưởng “cách mạng không ngừng” mà Lê- nin đã đề xướng, và đó chỉ là quan điểm cách mạng “triệt để” của những người cách mạng chân chính, không ai kịp nghĩ đó là hành vi bóp chết một nền dân chủ trước khi nó kịp định hình. Tệ hại nhất là không ai kịp nhận ra đó là một sự phi tang những thành quả cách mạng có liên quan đến Hồ Chí Minh; không ai kịp nhận ra đó là sự khẳng định ngạo nghễ của con người đương kim lãnh đạo cái chính đảng, cái chính thể và cuộc chiến thắng ấy, một sự khẳng định nhằm thách thức vị trí và vai trò lịch sử của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng vừa qua. Sự tha hóa và chuyên quyền, cùng với căn bệnh vĩ cuồng sau chiến thắng kéo dài cho đến tận lúc qua đời của cá nhân Tổng bí thư Đảng lúc ấy đã tự vạch trần và làm lộ bước đầu mưu đồ nói trên của ông và một vài cộng sự thân cận; minh chứng cụ thể là sau cái chết của nhân vật ấy người ta cũng đã vội vàng xóa bỏ nguyên tắc tại vị suốt đời trong các cương vị lãnh đạo Đảng và nhà nước để ngăn ngừa tái lập hiện tượng cá nhân chuyên quyền. Chỉ tiếc rằng số đông có thẩm quyền lúc bấy giờ đã không kịp nhận rõ toàn bộ mưu đồ thâm độc này của ông ta để đi đến một quyết định sáng suốt là xóa bỏ triệt để toàn bộ các thiết chế đã phục vụ cho tham vọng thâu tóm quyền lực và chiếm đoạt công danh của con người đó; nếu lịch sử đã đi theo chiều hướng nói trên thì hạnh phúc cho dân tộc và cho xã hội này biết mấy. Bởi vì nếu đã kịp thời xóa bỏ toàn bộ những thiết chế ấy thì cái chính đảng từng có công đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thành công đã không bị cướp mất chính danh, cái đất nước từng được cuộc cách mạng ấy thai nghén và khai sinh đã không bị xóa tên, bản Hiến pháp từng được các dân tộc và các quốc gia đang bị áp bức trên thế giới coi là tiến bộ và cách mạng nhất vào thời kỳ ấy đã không bị vứt bỏ, nền pháp quyền và nền dân chủ mà bản Hiến pháp ấy từng đặt nền móng đã không bị thủ tiêu. Song đau xót hơn cả là nhân dân của đất nước này sau khi đã cùng Đảng tiên phong của mình đạt được chiến thắng thì đã bị chính lãnh tụ của đảng đó phản bội; sự thống trị của ngoại bang khi trước thì nay lại được thay thế bằng sự thống trị có phần gay gắt và nghiệt ngã hơn của người bản xứ, người đã từng là đồng đội, đồng chí và lãnh tụ của mình. Ước vọng ngàn đời của một dân tộc kể từ khi hình thành và lập quốc cho đến nay về một nền dân chủ đang manh nha tưởng sắp đạt được bỗng tuột khỏi tầm tay, khiến cho dân tộc ấy trong suốt chiều dài của lịch sử chưa từng được biết biết thế nào là hình hài và mùi vị thực sự của một nền dân chủ, nay đã bị mất đi cơ hội có thể được biết nó. Vinh quang chói lọi của một dân tộc kiên cường, biết hy sinh và biết chiến thắng, một dân tộc đã được hầu hết các dân tộc trên thế giới biết đến và ngưỡng mộ bỗng bị lu mờ. Tệ hại hơn là đất nước và dân tộc ấy sau đó đã bị cộng đồng quốc tế cô lập gần như ruồng bỏ trong nhiều thập kỷ. Hậu quả nhãn tiền là đất nước đó từ vị trí của nhóm nước đứng đầu so với mặt bằng phát triển chung trong khu vực đã bị bị tụt hậu thảm hại trước sự bứt phá nhảy vọt của nhiều nước láng giềng trong khu vực.
Các nước láng giềng đó không có Đảng anh minh lãnh đạo, nhưng người ta đã chọn được phương pháp đúng phù hợp với hoàn cảnh, bối cảnh cụ thể của đất nước họ trong mối tương quan, tương đồng với hoàn cảnh, bối cảnh của thế giới lúc bấy giờ; vì thế họ đã tạo nên thời cơ và chớp lấy thời cơ để có những bước bức phá vượt xa chúng ta trong quá trình phát triển.
Còn chúng ta có Đảng anh minh lãnh đạo – như chúng ta đã từng tự nói to lên – nhưng lại tự mình để tuột biết bao cơ hội thuận lợi. Những cơ hội ngàn vàng ấy sẽ không bao giờ tìm lại được nữa vì bối cảnh, vì nội lực, vì tư thế và xuất phát điểm, vì mối tương quan hiện tại của chúng ta so với xung quanh đã hoàn toàn khác xưa.
Cơ hội đã không chờ chúng ta!
Thời gian đã không chờ chúng ta!
Sau ngày thống nhất đất nước 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã bao lần lỗi nhịp trong bước phát triển của mình!
Một phương pháp sai không bao giờ đem lại kết quả đúng. Không thể có cách nào để biện minh được rằng các thực trạng thảm hại mà đất nước ta đã phải hứng chịu kể trên là những kết quả đúng. Đó là hệ quả trực tiếp của hàng chuỗi sai lầm trong cách chọn mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt, cũng như trong cách xác định phương pháp cách mạng cho từng mục tiêu trong từng thời kỳ mà Đảng đã tiến hành sau năm 1975.
Đảng ta có thói quen, mọi công lao và thành quả cách mạng đều được quy về công tích của Đảng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Vậy thực trạng bi đát kể trên của đất nước thì phải quy về tội lỗi và năng lực lãnh đạo của ai?
Thế mà đứng trước các quyết định có tầm vóc lịch sử, liên quan đến vận mạng và tương lai của cả dân tộc thuở ấy thì các thế hệ công dân trưởng thành như chúng ta, những người có quyền ăn nói khi ấy đã im lặng.
Đó là sự im lặng lịch sử và là món nợ ngàn đời của chúng ta với hậu thế!
Chúng ta vô tình vừa là nạn nhân, đồng thời cũng là kẻ đồng lõa với con người có hành vi đồ tể và kẻ cướp đã giết chết cuộc cách mạng dân chủ và cướp không mọi thành quả đạt được của quần chúng cách mạng (Thế mà mỉa mai thay, cứ đến gần ngày sinh và ngày mất của nhân vật ấy thì người ta lại có bài tung hê công lao của con người gian hùng, lật lọng này đối với cách mạng; trớ trêu thay cho đến nay mà nhiều người trong chúng ta vẫn còn ngộ nhận hành động bức tử nền dân chủ cùng với nền móng nhà nước pháp quyền đang có cơ hội manh nha và cướp công cách mạng của con người ấy là những công lao đối với cách mạng!?).
Quần chúng quảng đại và giới trí thức của các vùng mới được giải phóng hồi ấy còn đang mặc cảm với thân phận của mình và còn đang xa lạ với chính quyền cách mạng thì làm sao đòi hỏi người ta phải có tiếng nói cần thiết trong tình trạng đó?
Những người bên kia hàng ngũ còn đang chưa xác định được vị trí và chưa biết số phận của mình sẽ ra sao dưới chế độ mới này thì làm sao đòi hỏi họ phải có tiếng nói thỏa đáng trong trường hợp này?
Chỉ có chúng ta – bao gồm cả các cán bộ và chiến sĩ cách mạng lẫn quần chúng cách mạng thuở ấy – những người đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đang ở độ tuổi trưởng thành đầy đủ lúc ấy là phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự im lặng lịch sử nói trên, mặc dù hồi ấy đã không ai hỏi chúng ta về quyết định này của họ cả.
Chúng ta đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng chúng ta đã không tự giải phóng được mình khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và khỏi vòng ảnh hưởng của tư tưởng thần quyền. Chúng ta đã tôn thờ lãnh tụ của mình với lòng trung thành và sự phục tùng tuyệt đối như người xưa đã tôn thờ và phục tùng đức vua của họ. Chúng ta đã tôn thờ cái chủ nghĩa được coi là lý tưởng ấy như tôn thờ một tôn giáo mà không hề xét đến đặc điểm dân tộc, trình độ nhận thức và bối cảnh đặc thù của xã hội chúng ta. Chúng ta đã coi cái tổ chức mà chúng ta trực thuộc ấy không khác gì một giáo hội, chúng ta đã tuân thủ nó một cách tự nguyện và nghiêm túc như con chiên ngoan đạo ứng xử với tổ chức giáo hội của họ. Vì thế chúng ta đã phó thác mọi quyết định cho người lãnh đạo và cho tổ chức lãnh đạo chúng ta. Vì thế chúng ta đã trở thành những kẻ “ngu trung” mù quáng. Vì thế lý trí của chúng ta hoàn toàn bị tê liệt, luôn chấp hành mà không hề có phản kháng với mọi quyết định của cấp trên. Vì thế chúng ta đã im lặng và thụ động. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã mặc nhiên chấp nhận và mặc nhiên là tòng phạm.
Chúng ta đã tham gia cuộc đấu tranh để giành độc lập tự do này tự nhiên như một lẽ sinh tồn; tuyệt đại bộ phận trong chúng ta trước đó không hề biết chủ nghĩa cộng sản là gì, ngoài nhận thức mang tính bản năng là chủ nghĩa yêu nước. Chúng ta tham gia cuộc cách mạng giải phóng dân tộc này với một động cơ hồn nhiên và trong sáng mà trong tâm tư không có gì lớn hơn khát vọng được làm người dân của một nước độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc như mục tiêu đã hằng được cuộc cách mạng này nêu cao, hơn thế nữa mục tiêu này lại còn được trân trọng nêu trong quốc hiệu đầu tiên của đất nước: “Việt Nam – Dân chủ - Cộng hòa; Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Vì thế chúng ta đã trở thành ngờ nghệch, ấu trĩ và cả tin trước các tham vọng và thủ đoạn chính trị của các chính khách, khiến lúc ấy chúng ta đã bị lừa nên đã im lặng, dù là một cách thụ động.
Vì bản năng sinh tồn và khát vọng tự do mà chúng ta đã dũng cảm vô song trước mọi khó khăn trở ngại và trước quân thù, nhưng vì cố chấp và không quyền biến với nguyên tắc phục tùng tổ chức, nguyên tắc “dân chủ tập trung” mà chúng ta đã im lặng trước mọi quyết định sai trái của cấp trên, thậm chí còn chấp hành chúng một cách máy móc và vô điều kiện.
Chúng ta là những người biết trọng nhân cách và danh dự nên rất trân trọng sự nghiệp chính trị và sinh mạng chính trị của mình. Thế nhưng chế độ kỷ luật tự giác - một thứ kỷ luật sắt không thể không chấp hành, một kiểu kiêu hãnh và tự hào đối với những ai tự cho mình là giác ngộ, là đảng viên trung thành và trung kiên của Đảng - đã khiến chúng ta trở nên hèn nhát và do dự mỗi khi suy nghĩ, hành động hay phát ngôn trái với những gì được coi là ý Đảng. Mặc dù đã có không ít những người trung thực từng dám nói lên tiếng nói của sự thật, đã dũng cảm hành động theo lương tri của mình, song suy cho cùng đó cũng chỉ là những tiếng nói và việc làm rời rạc, lẻ loi không có sự phối hợp đồng bộ và nhịp nhàng với số đông nên đã thất bại nặng nề và thảm hại. Tuy nhiên hãy thành thực mà tự suy xét mình, đằng sau cái được gọi là ý thức tổ chức kỷ luật ấy, cụ thể là trong trường hợp gọi là để “bảo toàn sinh mạng chính trị” ấy có phải là nỗi lo sợ bị mất một phần, hay mất hết quyền lợi chính trị, quyền lợi vật chất và vị trí xã hội mà chúng ta đang được hưởng hay không? Người có cương vị bình thường thì không nói gì, còn người có đặc quyền, đặc lợi thì có thể chối cãi điều này được không? Có thể vì thế mà biết bao người khi tại vị thì không dám mở mồm, đến khi hết vai trò rồi thì mới dám lớn tiếng? Có thể vì lúc ấy họ chưa thấy được sự thật của vấn đề? Có thể cả hai lý do đều đúng cả hay chỉ đúng một phần, nhưng tựu trung thì vẫn là biểu hiện cụ thể về sự hèn nhát, sự ích kỷ và sự mù quáng một thời của chúng ta mà thôi.
Chúng ta được trang bị những nguyên tắc cơ bản có thể nói đến là hoàn hảo, khiến Đảng chúng ta trở thành một “đảng kiểu mới” có “sức mạnh hơn người” khi sử dụng những nguyên tắc ấy vào mục đích cao cả, mục tiêu đúng đắn. Đó là nguyên tắc lấy “thiểu số phục tùng đa số” làm cơ sở khi quyết định mọi quyết sách có lợi cho dân cho nước; đó là nguyên tắc lấy “phê bình và tự phê bình” làm quy luật phát triển; đó là nguyên tắc lấy “đường lối quần chúng” làm đường lối cơ bản; đó là nguyên tắc lấy phương pháp “duy vật biện chứng” làm phương pháp tư tưởng v.v. Nếu chúng ta đã biết tuân thủ và vận dụng một cách triệt để những nguyên tắc ấy trong mọi sinh hoạt khác của Đảng thì đâu có cái cảnh một cá nhân có thể lũng đoạn và thao túng vận mạng sống còn của Đảng lẫn của cả dân tộc như vừa qua (và như hiện nay); đâu có cái cảnh dân chủ trong Đảng lẫn trong xã hội đã bị bóp nghẹt như thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh mọi phản biện trong Đảng lẫn trong xã hội bị cấm đoán như thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh Đảng lại tự đặt mình lên trên cả dân tộc, lên trên cả nhà nước như thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh sai lầm lạc hướng trong các quyết sách cơ bản của Đảng một cách duy tâm, duy ý chí và dai dẳng như thuở ấy (và như hiện nay). Chỉ cần ngần ấy bửu bối trong tay thôi cộng với sự dũng cảm vốn có của những người chiến sĩ cách mạng đã từng vào sinh ra tử, từng luôn tỉnh táo trước lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, từng dám vượt qua chính mình thì chúng ta đã có thể ngăn chặn được thảm trạng vừa qua cho đất nước. Chúng ta đã không có đủ sự minh mẫn, sự dũng cảm, cũng như đã không tận dụng được những vũ khí ấy trong thời khắc đoàn tàu lịch sử đã bị cưỡng bức “bẻ ghi” theo chiều lệch hướng, khiến chúng ta phải mang món nợ lịch sử này đối với hậu thế.
Theo nguyên tắc, mắc nợ thì phải trả.
Không thể theo nguyên tắc có tài nguyên gì thì cứ khai thác, cứ đào bới, cứ bòn mót, cứ cho thuê, cứ bán tháo theo kiểu bán lúa non lúc “giáp hạt”; bất cần biết thế hệ con cháu mai sau có còn gì để sống hay không.
Không thể theo nguyên tắc cứ tiêu xài, cứ xa xỉ, cứ vay mượn nước ngoài, cứ xà xẻo vốn liếng, bất kể đó là vốn trong nước hay vốn vay nước ngoài để làm giàu cá nhân; bất chấp thế hệ con cháu mai sau có trả nổi hay không, hay vì ngập đầu bởi món nợ đó mà mãi mãi bị giam hãm trong vòng nghèo khổ và dốt nát; bất kể đất nước có vì thế mà suy sụp, mà tụt hậu và mãi mãi sa vào vòng lệ thuộc ngoại bang hay không.
Chúng ta không thể chối cãi và rũ bỏ món nợ đó một khi chưa trả xong. Có thể nào chúng ta lại vẫn im lặng và khoanh tay đứng nhìn như đã sai lầm trước đây, sai lầm trong phút giây lịch sử đã đưa đất nước sa vào tình cảnh tụt hậu và kém cỏi hiện nay. Lần này thì không phải riêng đối với thế hệ công dân đã trưởng thành thời ấy mà bao gồm cả các thế hệ đã trưởng thành đang độ tuổi công dân hiện nay, bao gồm tất cả những ai là người Việt Nam yêu nước đang sống ở trong nước hay ngoài nước, bao gồm tất cả những ai đang đứng trong hay đứng ngoài tổ chức đảng và bộ máy cầm quyền đều phải chịu trách nhiệm trước Tổ quốc, trước lịch sử, bởi vì chúng ta đang ở trên cùng một con tàu số mệnh, chúng ta đều có chung một Mẹ Việt Nam. Nếu chúng ta lại mắc sai lầm một lần nữa trong thời khắc lịch sử này thì rất có thể lần này sẽ là lần cuối cùng để rồi không còn cơ hội nào mà mắc sai lầm nữa, bởi vì sẽ mãi mãi có còn gì đâu để mà mắc sai lầm. Chả thế mà có người trong chúng ta – tức thế hệ công dân đã đến tuổi trưởng thành và có trọng trách thuở ấy – khi từ giã cõi đời này mà vẫn còn tức tưởi vì cảm thấy mình chưa làm hết và chưa nói hết những gì đáng lẽ phải nói và phải làm trước đây, hoặc cũng vì thế mà có người lẽ ra đã được thanh thản mà nhắm mắt xuôi tay thì vẫn còn vương vấn mà ra đi chưa đành. Tôi xin ngàn lần kính cẩn cúi đầu trước vong linh và trước nhân cách của những con người này, những con người mà tôi thực sự hết lòng kính trọng; tôi kính trọng cả cung cách sống, cung cách ra đi lẫn nỗi bận bịu vấn vương vì tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, vì nghĩa lớn đối với dân tộc của từng người trong họ.
Đừng để chậm bước mà lỗi nhịp lịch sử, lỗi đạo với tổ tiên một lần nữa hỡi người ơi!
Thế hệ của những người phải chịu trách nhiệm trực tiếp với sai lầm lịch sử nói trên, người trẻ nhất giờ đây cũng đã bước vào độ tuổi U70 (từ ngoài 60 đến 70 tuổi), còn lại tuyệt đại bộ phận thì đã ở độ tuổi U80 (từ ngoài 70 đến 80 tuổi) và cao hơn nữa. Hầu hết trong số ấy hoặc vì tuổi tác, hoặc vì sức khỏe nên đã rời bỏ chính trường, nhưng những người còn minh mẫn, còn tâm huyết với vận mệnh đất nước, còn ý thức trách nhiệm với xã hội, dù đang ở lứa tuổi U70, U80, thậm chí U90 thì họ vẫn cố gắng cảnh báo và cảnh tỉnh xã hội về hiện tình nguy kịch của đất nước và phản biện tích cực về các chủ trương sai trái của Đảng và Nhà nước, ngõ hầu bù đắp phần nào những sai lầm lịch sử mà các vị đó vừa là chứng nhân, vừa là tòng phạm – dù là tòng phạm thụ động thuở nào. Không ai nỡ lòng trách cứ các vị ấy vì sự hạn chế tầm nhìn của của họ trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Sai lầm của họ âu cũng là một sản phẩm tất yếu của điều kiện lịch sử cụ thể hồi ấy. Tuy nhiên, hiện nay tuy tuổi đã cao và không còn vai trò lèo lái xã hội nữa, nhưng uy tín của các vị thuộc thế hệ ấy vẫn còn rất cao trong ký ức và trong mắt của số đông quần chúng trong xã hội về những gì tốt đẹp mà thế hệ ấy đã làm và đã đem lại cho đất nước, cho dân tộc này. Tác dụng hiệu triệu, động viên và cảnh báo của các vị đối với xã hội vẫn còn rất lớn. Các vị vẫn còn có thể đem uy tín, tinh thần trách nhiệm cùng với sự dày dạn kinh nghiệm trong cuộc sống của mình để tác động một cách tích cực đến hiện tình đất nước, để phân tích sai lầm lịch sử vừa qua, để sao cho tên tuổi và sự nghiệp quang vinh còn đang bỏ dở của Đảng được phục hồi, tức quá trình cách mạng dân chủ mà Đảng còn bỏ dở lại được tiếp tục tái khởi động, để cái tên quang vinh của đất nước, của nền cộng hòa đầu tiên mà cuộc cách mạng này đã khai sinh lại được tái sinh, để bản Hiến pháp và nền pháp quyền mà nhà nước ấy đã khẳng định lại được tái xác lập. Có vậy thì thế hệ các vị mới có thể thanh thản ra đi mà không vấn vương và tức tưởi.
Hỡi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay! Các vị đang trên cương vị là những người nắm vai trò bảo vệ Tổ quốc và quyết định tương lai đất nước, vận mệnh của dân tộc. Tôi không biết các vị yêu nước đến đâu và tôi không đánh giá thấp lòng yêu nước của các vị. Nhưng chắc không có ai trong các vị có thể phủ nhận được tình trạng tụt hậu của đất nước hiện nay so với mặt bằng chung của thế giới, cụ thể là so với các quốc gia láng giềng kề cạnh.
Để khắc phục tình trạng ấy mà không qua con đường phát triển dân trí, phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật trên nền tảng của một xã hội dân sự và dân chủ của một nhà nước pháp quyền thì ắt không còn con đường nào khác ngoài sự suy vi và tụt hậu. Để khắc phục tình trạng ấy bằng cái vỏ che hào nhoáng, lộng lẫy nhất thời bên ngoài thông qua việc vơ vét và bán tháo tài nguyên, thông qua vay nợ để tạo sự phát triển giả tạo, nhằm che đậy sự lạc hậu và rỗng tuếch của nội dung bên trong là nếp nghĩ của những kẻ vụ lợi, háo danh và cơ hội, không thể là cung cách của những bậc lãnh đạo quốc gia chân chính. Kẻ thất học không thể bỗng chốc trở thành nhà trí thức vì được đội mão Cử nhân và mặc áo thụng dài tay. Kẻ vũ phu không thể bỗng chốc trở thành người lịch sự vì khoác chiếc áo sang trọng đắt tiền.
Đứng trước dã tâm bành trướng và xâm lược của một kẻ vừa là đồng minh truyền thống, vừa là kẻ thù truyền kiếp, đứng trước một đối thủ có thế và lực vượt trội, áp đảo hơn ta nhiều lần thì việc ứng xử cho phải lối, cho đúng cách không phải là chuyện dễ, nhưng để “tránh nạn binh đao cho đất nước” mà ứng xử bằng cách luôn nhân nhượng, thỏa hiệp, lùi bước, khúm núm, van xin, cầu cạnh để người ta “được đằng chân lân đằng đầu” như hiện nay thì không đúng với truyền thống ứng xử khôn ngoan và khí phách anh hùng của cha ông chúng ta, không đúng với tư thế của một dân tộc đã từng có một quá khứ lẫy lừng như dân tộc chúng ta. Đối với người Việt nam thì không gì vinh dự và hãnh diện hơn bằng được làm người đại diện cho một đất nước và một dân tộc như đất nước và dân tộc chúng ta, không gì tội lỗi và đáng nguyền rủa hơn khi làm ô nhục một đất nước và một dân tộc như đất nước và dân tộc chúng ta.
Khi giặc ngoài đang hung hăng lăm le bờ cõi mà thù trong lại thắng thế và lộng hành là điềm mất nước nhãn tiền. Để ngặn chặn “chủ nghĩa dân tộc cực đoan” mà lòng yêu nước và sĩ khí của dân tộc không những không được phát động, không được hâm nóng, không được tập hợp mà lại bị kìm hãm và trấn áp bởi chính các thế lực đang lãnh đạo đất nước thì không khác gì hành động tự làm suy yếu tinh thần và sức mạnh đề kháng của dân tộc, tự trói chân, trói tay dân tộc để chuẩn bị trước cho một ngày nào kẻ thù ung dung kéo vào mà không cần tốn sức.
Đối phó với đối phương mà toàn dân bị bịt mắt, bưng tai, bít miệng để rồi không biết gì về thời cuộc và không biết gì về đối phương, đến nỗi khi giáp mặt với kẻ thù mà cứ ngỡ rằng đang giáp mặt “kẻ lạ” (!?), để rồi khi lâm trận thì như một lũ mù, lũ điếc, lũ câm, một lũ ngớ ngẩn thì làm sao không mất nước?
Đối phó với một kẻ mạnh đang âm mưu đóng cửa đánh mình mà chủ trương đấu võ tay đôi không biết cầu hàng xóm láng giềng thì có khác nào là hành động tự sát?
Trong khi chính kẻ có dã tâm còn đang ngần ngại trước công luận quốc tế mà chưa dám ngang nhiên xâm phạm lãnh hải, xâm phạm biên giới bất khả xâm phạm của Tổ quốc mà chúng ta lại chủ động mời họ tuần tra chung trên biển của mình, cho họ thuê dài hạn đất ven biên giới và những nơi khác nhạy cảm với an ninh quốc gia… rồi lại còn lên tiếng bênh những việc làm lộng hành của họ trên Biển Đông tưởng làm thế là giữ được 16 chữ vàng, tức giữ được “cái ghế” cho mình, thì có phải là giúp họ hợp thức hóa hành vi xâm lược?
Đã “lỡ dại” mà “hứa dại” với “người lạ” thì sao lại không biết dùng quyền phủ quyết của Quốc hội để sửa sai mà lại dùng quyền uy để ép Quốc hội đồng thuận?
Ngày xưa An Dương Vương hỏi thần Kim Qui rằng giặc đang ở đâu và thần Kim Qui chỉ rằng, giặc đang ngồi ở sau lưng bệ hạ đó!
Ngày nay, nếu các vị hỏi rằng giặc đang ở đâu thì bất cứ một người dân yêu nước nào, nếu người đó không mù, không câm, không điếc và không mất trí cũng có thể chỉ rằng:“Những kẻ đã trói tay và bịt mắt, bịt miệng xã hội qua chiêu bài hãy bám “lề phải” mà đi, những kẻ đã đàn áp, cấm đoán, truy tố những hành động của quần chúng phản đối nước ngoài xâm chiếm lãnh hải, lãnh thổ của Tổ quốc, những kẻ đã tiếp tay cho người nước ngoài xâm chiếm tài nguyên, chiếm cứ các vị trí xung yếu của Việt Nam như cảng biển, đất biên giới, rừng đầu nguồn một cách lâu dài, những kẻ đã dùng phương tiện của Đảng và bộ máy cầm quyền để nói hộ và tuyên truyền thay cho quan điểm xâm lược của ngoại bang; tóm lại là những kẻ đã và đang trực tiếp tiến hành một cách lén lút, hay công khai, hoặc làm ngơ dung túng và ngầm cổ vũ những hành động sai trái, phản trắc nói trên. Những kẻ đó đang trà trộn ngay trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tất cả các cơ quan và các bộ phận đầu não của Đảng và chính quyền nhà nước mà các vị đang quản lý đó!”.
Để ngăn được giặc ngoài điều đầu tiên là phải chặn được giặc trong.
Ngay trong đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI sắp tới, các vị cần có biện pháp cụ thể để phát hiện và loại trừ ngay bọn “giặc trong”, kể cả những hậu duệ của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và Trọng Thủy thuở nào đang lẩn khuất trong hàng ngũ của chúng ta ra khỏi vị trí hiện nay của chúng, không để chúng tiếp tục nối giáo cho giặc, tiếp tục lũng đoạn nền chính trị nước nhà như vừa qua.
Các vị cần có cách phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với các tầng lớp yêu nước trong và ngoài nước, nhất là với các bậc tiền bối yêu nước và trọng danh dự trong Đảng đang tích cực hoạt động và đang bức xúc với vận nước hiện nay.
Tuy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng lãnh tụ, tuy rằng đội ngũ cán bộ Đảng và nhà nước Việt Nam chứa đựng trong nó rất nhiều khuyết tật, nhưng chắc chắn rằng trong hàng ngũ đó vẫn có người kết tinh được tinh hoa của quần chúng, còn mang trong người tình cảm, nếp nghĩ và lợi ích của quần chúng nhân dân, còn chảy trong huyết quản giòng máu của cha ông, còn giữ được trong tâm hồn khí thiêng của sông núi; chắc chắn những người đó không thể nào không cảm nhận được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc ” của vận nước hiện nay.
Có thể sự hy vọng và chờ đợi của người viết bài này chỉ là ảo tưởng, nhưng nếu những điều ấy không xảy ra thì Đảng cộng sản Việt nam làm sao trả lời trước lịch sử:
Rằng ai đã làm cho đất nước suy vi lụn bại?
Rằng ai đã đưa đất nước vào nguy cơ lệ thuộc ngoại bang như hiện nay?
Rằng ai đã đặt đất nước trước bờ vực diệt vong như hiện nay?
Nỗi nhục này ngàn đời không rửa sạch!
Món nợ hậu thế này ngàn đời không trả nổi!
Hỡi những kẻ lầm đường hãy sớm tỉnh ngộ!
HG
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Nguon: http://boxitvn.blogspot.com/2010/06/su-im-lang-lich-su-va-mon-no-hau.html#more

Thursday, June 11, 2009

Đại Vệ Chí Dị 2

Nước Vệ đào tài nguyên bán rẻ cho nước Tề. Chuyện kinh thiên động địa ấy các bậc sĩ phu trong thiên hạ đều biết và phản đối. Tầng lớp nhân dân do sách vở bị chính sách cấm đoán hà khắc của triều đình, ít người biết đến. Thành ra chỉ có một nhóm sĩ phu biết mà cùng nhau phản đối mà thôi. Nhóm sĩ phu khác thì tranh thủ lấy lòng triều đình mạt sát nhóm kia. Chuyện này bung xung vô cùng. Nơi nào có phòng sách, nơi ấy người ta xôn xao chuyện bán tài nguyên. Triều đình nhà Vệ mới họp bàn. Vương nước Vệ là Cường gọi tể tướng Vệ là Bạo đến nói.- Này anh Bạo, buổi thiết triều tới đây. Thế nào cũng có kẻ nhắc việc tài nguyên. Anh có cao kiến gì không?Bạo vốn tính huênh hoang, nói nhiều mà chả làm được mấy. Nhiều lần điều hành chính sự nước Vệ chả ra đâu vào đâu, cải cách nửa vời làm giá cả ngoài chợ tăng vùn vụt. Khiến cho dân mất lòng tin, mà bọn gian thần trong triều cũng có cớ dèm pha. Vị thế lung lay lắm, qua mấy năm cầm chính sự Bạo già sọm hẳn đi. Mất hẳn tính cương cường như buổi đầu. Bạo tâu.- Thưa đại vương anh minh, thần đã sắp xếp đâu vào đó.Cường Vương không tin lắm, mới hỏi cặn kẽ. Bạo trả lời lưu loát trôi chảy. Cường Vương thở phào nhẹ nhõm nói.- Thế thì ta yên tâm.Buổi thiết triều nước Vệ. Có kẻ bước ra tâu.- Thưa đại vương cùng bá quan văn võ, việc bán khoáng sản Tây Nguyên cho nước Tề khiến cho sĩ phu, cựu thần khắp nước cực lực phản đối. Việc này ngày càng lan rộng khắp nơi. Xin triều đình nghị luận.Bạo đưa mắt nhìn Tôn Dưa, đại thần phụ trách văn hóa tư tưởng. Tôn Dưa lĩnh ý bước ra nạt to rằng.- Tấu láo, không được gọi là cực lực phản đối. Phải nói là một số dư luận quan tâm.Kẻ khác nói.- Có đông đảo mọi tầng lớp nước Vệ phản đối việc bán tài nguyên này, không thể coi là việc nhỏ.Quan phó bộ Hình bước ra chặn lời.- Nói sai rồi, không thể gọi chung như thế. Nên nói là có một số tri thức góp ý triều đình vài vấn đề nhỏ liên quan đến việc khai thác tài nguyên, một số còn lại đa phần là thế lực thù địch lợi dụng phá hoại đường lối, chính sách xuyên tạc chủ trương triều đình. Phải tách rõ mới đấu tranh có hiệu quả.
Kẻ khác bước ra nói.
- Thưa đây là việc lớn, nên cân nhắc bàn ở đại hội đại biểu nhân dân.
Bạo ngồi im từ bấy giờ, mới nhỏm dậy khoát tay.
- Việc này không lớn, không lớn. Về ảnh hưởng với đất nước thì việc khai thác tài nguyên này trên núi không lớn lắm, không đáng bàn ở đại hội đại biểu nhân dân.
Kẻ khác thắc mắc.
- Sao nói là chủ trương lớn của triều đình, giờ lại bảo không lớn.?
Đưa mắt nhìn kẻ vừa nói, Bạo gằn giọng.
- Làm quan trong triều bao lâu rồi mà hỏi gàn vậy, chủ trương lớn của triều đình là để các quan trong triều biết ý mà thống nhất. Chủ trương lớn của đất nước mới cần nhân dân thống nhất.
Có kẻ lại hỏi.
- Thế cái gì là chủ trương lớn của đất nước mà cần đến nhân dân thống nhất, tham gia.?
Phó tể tướng Vệ là Trọng nói.
- Có nhiều cái, như đóng thuế để xây dựng quốc gia, học tập tấm gương đạo đức tiên đế, những việc đó đúng là việc lớn cần đến sự tham gia của nhân dân cả nước. Còn việc bán tài nguyên này là chỉ là lớn với triều đình thôi. Với nhân dân là việc nhỏ không đáng phải phiền họ tham gia.
Có kẻ người miền Nam bước ra, thái độ bứt rứt tâu.
- Thưa triều đình, khai thác quặng tài nguyên trên cao nguyên, chất thải hàng tỷ tấn. Dù chúng ta có đảm bảo rằng không có gì xảy ra. Nhân dân miền Nam thì tin hay buộc phải tin vì họ chả còn biết tránh đi đâu. Nhưng các thương gia ngoại quốc từ muôn phương nhìn thấy điều ấy, có lẽ họ không muốn đầu tư gì vào miền Nam nữa. Họ không dễ tin những điều chúng ta đảm bảo. Họ tất nhiên là không mạo hiểm đồng vốn và con người nước họ trước cả tỷ tấn chất thải treo lơ lửng, được một nước công nghệ yếu kém về môi trường như nước Vệ ta đảm bảo không vấn đề gì. Đến những vấn đề môi trường như khí thải trong thành phố, chất thải, rác thải còn ngập cả đô thị trung tâm không giải quyết được, nói gì đến giải quyết chất thải quặng trên rừng. E rằng nếu cho khai thác quặng trên núi, thương gia ngoại quốc sẽ rút hết.
Vệ Cường vương ngôi trên ngai yên lặng từ này đến giờ, bỗng cười ha hả nói.
- Khá khen cho ngươi lo xa, không có nước nào đầu tư thì để đó cho nước Tề họ đầu tư. Lo gì chuyện đó. Người Tề họ luôn có ý muốn đầu tư vào nước ta, chỉ cần bản vương gật đầu chỗ nào là họ đầu tư lâu dài chỗ đó. Cần chi đế bọn ngoại quốc vừa muốn làm ăn sinh lợi, vừa muốn xỉa xói chuyện nước Vệ . Khai thác tài nguyên còn có cả những cái lợi mà bọn người tầm thường không thể thấy hết.
Cả triều thần nước Vệ kinh ngạc trước tầm nhìn xuất chúng của Vệ Cường Vương, đồng loạt đứng dậy cùng nhau hô vang.
- Đại vương anh minh, Đại Vệ đời đời hưng thịnh.
Sau đó triều đình đưa nhận định khai thác tài nguyên ra bá cáo với thiên hạ. Lời văn nhẹ nhàng khiến cho việc khai thác tài nguyên trở nên đơn giản, không có gì phức tạp. Trong đó có đoạn
“ để nhằm phát triển kinh tế nhân dân miền núi, cho khai thác quặng bán cho nước Tề cải thiện đời sống nhân dân. Chính sách này có nhận được sự quan tâm của một số sĩ phu, ý kiến đóng góp của họ triều đình sẽ lưu tâm. Ngoài ra một số phần tử quá khích như mọi khi lại ra rả xuyên tạc đường lối triều đình, luận điệu của chúng sẽ bị bác bỏ bởi triều đình phổ biến bằng hình ảnh hàng ngày, hàng giờ về Tây Nguyên xanh tươi, phồn vinh.Mời bà con đón xem vào các tối hàng ngày….’’
Tháng sau đại hội đại biểu nhân dân nước Vệ họp tại bộ Binh, do nhà đại lễ đường đang xây nên các cuộc họp đại hội đại biểu đều họp trong phủ quốc phòng. Lính gác lăm lăm gươm dáo sáng quắc quây mấy vòng quanh nơi họp. Có chín phần quan lại nước Vệ lại làm đại biểu nhân dân. Bởi thế chuyện khai thác tài nguyên tuy ngoài dân bàn luận gay gắt nhưng bên trong vẫn êm đềm, có mấy vị đại biểu chỉ nói sơ sơ qua việc đó rồi chuyển sang việc khác vì không đủ thời gian thảo luận.

Đại Vệ chí dị 1

Đại Vệ chí dị
Nước Vệ trải qua nhiều năm khốn khó, đến năm ấy thì Mạnh Vương lên ngôi báu. Thiên hạ hí hửng mừng rỡ, ngoài đường, ngoài chợ xầm xì bán tán đầy vẻ phấn khởi. Nào là Mạnh vốn dòng của tiên đế, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa, tính tình thuần hậu ưa sự thật. Thế này là dân Vệ hưng rồi, con cháu rồng đã trở lại nắm vương quyền. Bọn sâu mọt sẽ không còn đất sống...Sau khi ngôi tể tướng vào tay Dũng, dân Vệ lại đồn, tể tướng là loại tài ba, học rộng, chí khí tiến thủ khác người, trình độ ưu việt. Ngài quản lý triều đình đâu sẽ ra đó, trọng dụng người hiền tài, xử trí anh minh lỗi lạc. Vận nước Vệ hưng thật rồi.Ấy là đầu năm đại hội triều đình lần thứ XXX.Dũng nắm ngôi tể tướng, có lần vi hành trong dân. Nghe thấy có kẻ mù lòa ở chợ nói rằng.- Cái nước Vệ này càng ngày càng thiên về cường bạo ?Người buôn bán đi qua, có đứa hiếu sự dừng lại hỏi nguyên do, kẻ mù nói.- Vua thì Mạnh,quan thì Dũng thế có phải là toàn cường bạo đó sao ?Dũng về triều tức tốc tìm kẻ có tên là Nhân để cho làm phó của mình. Hòng bịt miệng lời đồn đại về triều đình trong dân. Ba tháng sau Dũng vi hành ra chợ, lại nghe kẻ mù ấy nói.- Phàm mọi mối quan hệ trong đời đều cần lấy chữ Tín. Làm quan càng cần phải giữ chữ Tín thì dân mới tin. Dân tin thì mọi việc mới suôn sẻ trôi chảy. Nước Vệ cường bạo có thừa, cái chữ Nhân kia cũng năm bày đường Nhân. Cái Nhân của kẻ đại trượng phu khác với cái Nhân của đám quần thoa. Nước Vệ mà không có chữ Tín thì khó mà thu phục được nhân tâm.Dũng về bàn với Mạnh, xin tìm người Tín để làm quan đầu triều. Tìm mỏi mắt trong đám quan lại không có đứa nào đáng tên là Tín cả. Mấy năm sau chán nản thôi không tìm nữa.Lại nói về dân Vệ, sau mấy năm sống dưới sự cai trị của vua quan mới. Con rồng chả thấy tinh tướng đâu, lòi đuôi ra giống tắc kè hoa. Càng trị vì lâu càng mưu mô xảo quyệt, biến hóa khôn lường. Sâu mọt được thể càng ngày càng sinh sôi, phát triển lúc nhúc. Tài ba học rộng cũng chả tăm hơi, lúc cần bán lúa thì cấm, lúc cần cấm thì lại cho bán, lạm phát leo thang, vật giá đắt đỏ, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng. Dân tình lừa lọc nhau kiếm nắm gạo cho qua bữa, quan lại thì gia sức vơ vét thuế má, tài nguyên. Xã hội đảo điên, đạo đức xuống cấp. Đứa nào ma lanh thì sống, thật thà thì khốn đốn cả lũ.Tề Bá Vương ở phía Bắc thấy nội tình nước Vệ rối ren, mới sai sứ sang Vệ đưa thư nói với Mạnh vương rằng.- Nước các ngươi vốn là chư hầu của ta từ lâu, cảm cái tình ấy mà ta nói cho Vệ ngươi rõ. Lòng người Vệ oán thán triều đình lên đến tận mây xanh, không khéo trừ bỏ mối nguy ấy thì có ngày vua quan các ngươi chả còn dinh cơ nguy nga, bạc vàng, châu báu mà hưởng nữa đâu. Cái họa diệt vong ngay trước mắt đó.Mạnh Vương nhận thư lấy làm lo sợ lắm. Bèn thân chinh sang Tề cầu kiến sự giúp đỡ. Tề Bá Vương cùng Mạnh Vương cắt máu ăn thề. Ký kết hiệp ước liên minh can thiệp nội bộ lẫn nhau khi có biến. Đổi lại Tề Bá Vương nói ý mình.- Nước Tề ta có con ngựa gỗ, muốn ăn cỏ cao nguyên nước Vệ, liệu nhà ngươi có giúp được chăng ?Mạnh Vương vái lịa lịa ríu rít rằng.- Đại Vương nói một con, chứ mười con tôi cũng xin hầu đại vương.Hàng nghìn thanh niên nước Tề kéo ngựa gỗ sang cao nguyên nước Vệ . Lão đại thần nước vệ cùng các sĩ phu thấy nguy cơ tiềm ẩn bèn dâng biểu can ngăn. Mạnh vương và Dũng phán rằng.- Có mấy ngàn dân phu và con ngựa gỗ, làm gì mà các ngươi phải lo cuống lên như vậy, các ngươi an phận mà sống, đây là chủ trương lớn của triều đình. Cỏ để không cũng vậy, cho ngựa gỗ nước Tề ăn. Họ giả tiền có thêm ngân sách cho cao nguyên , thế không tốt sao. Cấm bàn.Kẻ mù ở chợ đi xin ăn, lải nhải rằng.- Nước Tề đồng ruộng bát ngát phì nhiêu, thảo nguyên mênh mông. Thế mà nhọc công kéo ngựa sang tận cao nguyên nước Vệ ăn cỏ . Há chả phải chuyện bất thường sao ? Tỉ như trong bụng ngựa chứa đồ binh khí, nếu có biến thì không thể hình dung mà nói hết.Lời ấy đến tai triều đình, lập tức Mạnh sai Dũng sang Tề triều kiến. Khi đi dặn dò.- Chuyến này ngươi đi, cốt phải thật khéo để làm sao dân Vệ ta thấy rằng nước Tề đối đãi nước Vệ như anh em ruột một nhà. Cho dân Vệ khỏi dị nghị , dèm pha.Dũng sang chầu được Tề Bá Vương cho quan lại địa phương đón tiếp long trọng lắm. Về đến Vệ huênh hoang nói rằng.- Đấy các người đúng là bọn hủ nho, nước Tề đãi Vệ ta như anh đối với em. Làm sao mà có chuyện thế này, thế nọ được.Dân Vệ biết rằng nước Tề là nước mà từ trước đến này, chuyện anh em giết nhau tranh giành ngội vị, quyền lợi là nhiều nhất thiên hạ. Nhưng chả sử gia nào dám nói sợ đi ngược chủ trương lớn của triều đình. Quanh quẩn lại bàn đến kỳ đại hội triều đình tới, sẽ có vị này thẳng thắn , cương nghị vì dân vì nước, tay kia kiến thức uyên thâm... lên nắm ngôi. Nước Vệ lại sắp hưng rồi.